Untitled Document
User:
Pass:

Văn Nghệ

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Mỗi năm vào dịp tháng tư Tôi lại giống như một ông đồ già Loay hoay bày ra giấy bút Cố viết một bài thơ về đất nước Chuyện bên nhà và cả chuyện lưu vong Nhưng đã bao lần bút gãy mực loang Bài thơ tháng tư tôi chưa hề viết được Phải chăng khi đến tận cùng khổ nhục Con người bỗng trở nên Bình thản tự nhiên Có những chuyện buồn nhức nhối con tim Vẫn có kẻ Có thể bật cười Dù là cười chua chát Bài thơ nầy chắc sẽ dài Vì đời tôi nhiều lưu lạc Và cũng chắc sẽ buồn Vì là chuyện nước non. Phải chăng tôi nên bắt đầu Khi những chiếc trực thăng Sắp sửa rời thành phố Trong đám người đang bon chen lố nhố Tôi thấy dường như Nhiều con chuột cống ở Sài Gòn Cũng cố kiếm đường đi Chúng cõng trên mình những chiếc va li Chứa đầy đô la vàng bạc Dành dụm từ thời đi buôn gạo lậu Dấu diếm từ thời lo bão lụt miền Trung Tôi thấy chúng nghiêng mình Hai gối run run Trước những anh cảnh binh người Mỹ Chúng nói những gì tôi nghe không kỹ Chỉ thấy họ lắc đầu Rồi bước vô trong Có lẽ lại là chuyện hối lộ Ðể dược đi đông Ngòai chuyện ấy chúng còn biết gì hơn nữa Tôi đứng nhìn qua đôi cánh cửa Cầu mong cho chúng được đi mau Những con chuột cống nầy Gặm nhấm đã lâu Và bán nước từ khi còn rất trẻ Thuở Tây qua chúng đầu quân rất lẹ Tây bỏ đi chúng theo Mỹ vì đô-la Những chuyện về chủ nghĩa quốc gia Hay dân tộc thiêng liêng Chúng đọc biết bao lần Nhưng chưa hề hiểu nghĩa Tôi đứng nhìn qua đôi cánh cửa Thầm cầu mong cho chúng được đi nhanh. Phải chăng tôi nên bắt đầu Khi những chiếc xe tăng Lăn xích tiến vào thành phố Tôi đứng lặng nhìn Tự Do vừa sụp đổ Cây Dân Chủ chưa xanh Ðã héo úa bên đường Mới giã từ một bọn bất lương Lại phải đứng nhìn những tên ăn cắp Chúng đang nhân danh Hòa bình Tự do Thống nhất Ðể biến con người thành con vật ngây thơ Chỉ biết lắng nghe Chỉ biết cúi đầu chờ Chỉ biết Ðảng Ðảng trở thành tất cả Lịch sử, tình yêu, tổ tiên, mồ mả Chỉ còn là những chuyện phù phiếm, viễn vông Chúng biến những nương dâu bãi mía cánh đồng Thành những nông trường hoang vu tập thể Biến nhà máy thành những nơi hoang phế Biến học đường Thành những nơi để thầy trò tố cáo lẫn nhau Biến cả bình minh thành những tối thương đau Biến tình yêu Thành hận thù Bon chen Nghi kỵ Từ thôn quê cho đến nơi đô thị Ðã mọc thêm nhiều nhà cách mạng thứ ba mươi Những bạn bè thân thiết thuở rong chơi Bỗng một sáng thành những têm chém trộm Chế độ đã dạy cho chúng Một con đường tồn tại Con đường phản bội lương tâm Phản bội gia đình tổ quốc nhân dân Phản bội chính tâm hồn vốn rất đáng yêu của chúng Tôi đứng nhìn non sông đang phủ xuống Một màu đen tang tóc đau thương Người lính bộ binh buông súng đứng bên đường Ðang cúi mặt cố che niềm tủi nhục Anh không khóc Sao trời như bão động Anh không cười Sao chua chát nghẹn trên môi Về đâu anh nắng đã tắt trên đồi Sương đang xuống trên cuộc đời còn sót lại Ðời của anh Ðời một tên chiến bại Có gì vui để lại mai sau. Phải chăng tôi nên bắt đầu Khi những chiếc xe bộ đội nối nhau Mang gia đình tôi đến vùng kinh tế mới Ðến Ðồng Xoài trời vừa sập tối Lại phải sắp hàng nghe nghị quyết triển khai Gia đình tôi bảy người Chen chúc tránh mưa Căn nhà nhỏ một gian không vách Mẹ tôi ngồi đôi tay gầy lạnh ngắt Vẫn cố nhường chỗ ấm cho con Gạo lãnh lúc chiều không đủ nấu cơm Nên đêm ấy cả nhà ăn cháo trắng Mỗi giọt cháo là một liều cay đắng Chảy vào vết thương đang ung mủ trong hồn Tôi, đứa con đầu trong bảy đứa con Hơn hai mươi tuổi vẫn hai bàn tay trắng Nuôi tôi lớn Mẹ một sương hai nắng Học ra trường lương không đủ nuôi thân Mẹ tôi chưa hề trách cứ phân vân Nhưng tôi đọc những buồn lo Từ trong ánh mắt Ðêm hôm ấy tôi ngồi nghe mưa rót Vào lòng tôi những chua xót căm hờn Bao năm rồi trong cảnh cô đơn Mẹ tôi sống Ðôi mắt buồn hiu Chưa bao giờ khô lệ. Phải chăng tôi nên bắt đầu Khi chiếc ghe nhỏ Máy hư Ðang thả lênh đênh trên biển Bốn phương trời chưa biết sẽ về đâu Biển vẫn vang lên những khúc nhạc sầu Ðược viết bằng những cung trầm Ðong đưa vào vô tận Như để tiễn đưa tôi Một người Việt Nam bạc phận Ði về bên thế giới hư vô Chiếc quan tài mong manh trên sóng nhấp nhô Ðang tiếc nuối những gì còn sót lại Biển một màu đen Tang chế Buồn man dại Và âm u như số phận con người Ngồi một mình yên lặng trên mui Cố nghĩ một câu thơ để làm di chúc Dù biết chẳng còn ai để đọc Chẳng còn ai thương tiếc tấm thân tôi Hai mươi sáu năm lưu lạc trên đời Sống chưa đủ nhưng đã thừa để chết Lòng tôi an nhiên không hề sợ sệt Bỗng thấy ung dung thanh thản lạ thường Tôi chợt hiểu tại sao Con người ai cũng khóc khi sanh Nhưng nhiều kẻ lại mỉm cười khi nhắm mắt Hai mươi sáu năm Ðời tôi buồn hiu hắt Chẳng còn gì để lại cho nhân gian Tuổi thanh xuân với chút mộng vàng Ðã vụt tắt ngay trong ngày nước mất Nếu tôi có chết hôm nay Cũng chẳng phải là người thứ nhất Và hẳn nhiên không phải kẻ sau cùng Trên vùng biển nầy từ độ tháng tư đen Ðã thắm máu bao nhiêu người Việt Nam mất nước. Phải chăng tôi nên bắt đầu Bằng những ngày đầu tiên trên Mỹ quốc Bước chân hoang trên xứ lạ quê người Ngỡ ngàng nhìn cuộc sống nổi trôi Không dám khóc Chẳng dám cười Chỉ biết xót xa Ngậm ngùi Ngơ ngác Thiên hạ nhìn tôi một người tỵ nạn Dăm kẻ đã sớt chia Cũng đôi kẻ khinh thường Tôi hiểu ra rằng khi rời bỏ quê hương Là chối bỏ những gì yêu quí nhất Hai chữ tự do tôi vô tình đánh mất Cứ tưởng rằng mình đang giữ nó trên tay Tự do là gì tôi đã hiểu sai Nó vô nghĩa đối với một người không tổ quốc Ðêm đầu tiên tôi nằm nghe thương nhớ Chảy vào tim đau nhức tận linh hồn Mẹ tôi giờ nầy còn khóc nữa không Hay cố ngủ để chiêm bao giờ hạnh ngộ Em tôi đứng thập thò trên góc phố Ðợi anh về dù chỉ mới ra đi Người con gái tôi yêu đang tuổi xuân thì Có về lại một lần thăm xóm vắng Sài Gòn bây giờ trời mưa hay nắng Ở bên nầy tuyết vẫn trắng như tang Nhìn thành phố nguy nga tôi thấy ngỡ ngàng Thấy tội nghiệp cho Sài Gòn tăm tối Tôi nhớ cả những con đường lầy lội Những con đường ngày hai buổi tôi đi Tôi nằm mơ làm một cánh chim di Bay trở lại một lần rồi sẽ chết Hai tiếng quê hương sao vô cùng tha thiết Học lâu rồi nhưng mới hiểu ra đây Quê hương là những gì tôi không có hôm nay. Mười bảy năm đã trôi qua Sài Gòn xưa vẫn thế Vẫn những đau thương dằn vặt kiếp con người Mười bảy mùa thu Bao độ lá vàng rơi Tóc mẹ trắng Bạc theo từng nỗi nhớ Mẹ tôi đã bỏ vùng kinh tế mới Về lại Sài Gòn tìm một chỗ che mưa Cuộc sống bây giờ đã đỡ hơn xưa Bởi vì có tôi Chứ không phải nhờ có đảng Em tôi lớn không làm người cộng sản Nên suốt đời phải lam lũ kiếm ăn Tuổi hoa niên chỉ có một lần Chúng đã bỏ quên trên vùng kinh tế mới Mười bảy năm đường Sài Gòn vẫn tối Mưa vẫn rơi hoài Trên lối cũ thân quen Người phu quét đường vẫn dậy sớm mỗi đêm Ôm chiếc chổi lạnh lùng khua góc phố Bác xích lô trên đoạn đường loang lỗ Bao năm rồi vẫn đi sớm về khuya Chiếc lưng trần trầy trụi với nắng mưa Không dám trách ai Chỉ đổ thừa số mạng Cậu bé đánh giày ngày xưa Bây giờ đã trở thành tên du đãng Học thêm nghề đâm mướn chém thuê Tương lai em biền biệt sẽ không về Cơn gió lốc cuốn đi thời thơ dại Những con chuột cống ra đi Một số hình như đang tìm đường trở lại Vì tham nhũng lâu ngày nên đã hóa thành tinh Chúng đang biến thân làm lãnh tụ anh minh Tung bùa phép để thu hồi quyền lực Tội nghiệp đồng bào tôi Ðã bao đời khổ cực Sẽ thêm một lần ngậm đắng nuốt cay Ở tại Việt Nam trong mười bảy năm nay Ngoài tham nhũng Năng xuất chẳng có gì tăng nhanh hơn là nghị quyết Ðảng cộng sản vẫn tự khoe khoang Là muôn đời bất diệt Vẫn le lói giữa đêm mưa một bóng sao vàng. Và tôi Bao năm rồi vẫn những bước chân hoang Rất mệt nhọc như giòng sông chảy ngược Baì thơ tháng tư tôi chưa hề viết được Mười bảy năm dài đâu chỉ kể dăm trang Trước những đau thương của đất mẹ điêu tàn Ngôn ngữ của tôi đã trở thành vô nghĩa Ðời của tôi dù buồn bao nhiêu nữa Cũng không buồn bằng chuyện nước tôi đau Bài thơ nầy dù viết đến năm sau Cũng chỉ là bài thơ dang dở.

 

Tháng 4 anh hùng ngã gục Tháng 4 tổ quốc long đong Tháng 4 non sông ô nhục Tháng 4 quốc hận bên lòng Ôi đau thương Tiếng thét tháng 4 năm 75 triệu tâm hồn nhức nhối Cơn đau mùa Xuân Ất Mão muôn tim óc quay mòng Ngoài tiền tuyến chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa dũng cảm đương đầu cùng lũ giặc đông gấp bội gấp ba, quyết hy sinh không hàng quân xâm lược Chốn hậu phương đồng bào con Hồng cháu Lạc kiên trì sát cánh với chính quyền đang chia năm xẻ bảy, thề tử thủ chẳng sợ lũ rợ mông Máu tử sĩ chảy thắm ruộng đồng Gương anh hùng lớn khôn nòi giống Mặc lưỡng đầu thọ địch: ngoại giặc tấn công, nội thù quấy phá, quân đội Cộng Hòa đã nêu cao gương trung liệt, tính kiêu hùng của cháu con Âu Lạc Mặc tứ phía bủa vây: đồng minh phản bội, chiến hữu phỉnh lừa, con đân miền Nam đã chứng tỏ chí quật cường, lòng quả cảm của giòng dõi Tiên Long Ôi! Càng viết lệ chảy ròng ròng Càng suy tâm đau thốn thốn Sức cùng lực kiệt Cái khó bó khôn Lâu la phía Bắc bởi ma lanh hết cở đã tóm thâu trọn non Thái sông Hồng! Tướng lãnh miền Nam dù quyền biến phi thường cũng không đổi được mệnh Trời vận nước! Cao nguyên thất thủ! quân đội miền Nam không hề nao núng cố vượt chốn hiểm nguy về thủ đô tử thu? Vùng một tan hoang! đồng bào ruột thịt hết mực hoang mang mong rời nơi chết chóc đến bờ bến bình an Máu lửa lan tràn.... Thịt xương rửa nát Cả quân lực hùng mạnh rã tan theo lệnh đầu hàng Toàn non sông dấu yêu chìm đắm dưới giày xâm lược Bao cái chết dũng lược: Lê văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Phạm văn Phú, Hồ Ngọc Cẩn, Trần văn Hai, Đặng Sĩ Vinh .... bởi không chấp nhận kiếp tù binh trong tay bầy thổ phi? Triệu niềm đau sâu xa: quê hương ngục tù, non sông ngoại bang dày xéo, đất đai tiên tổ bị bán dâng cho quan thầy tàu cộng, nhân phẩm phụ nữ bị chà đạp rẻ khinh, bị bán cho ngoại bang mua vui nhục thể ... chỉ do một đảng cướp Cộng sản Hà nội gây ra Đất nước hằn đậm dấu chiến tranh, 30 năm sau còn ngập cơn binh lửa Đồng bào khắc ghi đời biến loạn, trăm năm tới vẫn hằn vết lưu vong Mỗi tháng 4 về, máu châu thân như chảy ngược dòng Từng mùa Xuân đến, sầu thất quốc như giăng đầy trí Quê hương thân yêu đắm chìm trong gông cùm Cộng phi? Tổ quốc mỹ miều khốn đốn giữa bão táp nô vong Bao mùa Xuân dân đen không chút lót lòng Bao tháng Hạ trẻ thơ chẳng gì vui thú Bánh vẻ, xảo ngôn là tuyệt chiêu chồn cáo Tù ngục, lọc lừa là bản chất Mác Mao Từ tháng Tư đen dân Việt từng ngày chết tận non cao Từ năm Ất Mão nước Nam từng khắc tàn trong huyệt thẳm Dân bần cùng Nước khánh tận Chỉ bầy lợn ỉ trung ương là no cơm ấm cật Còn đám dân đen khắp nước phải đói rách tan thương Cộng đảng: một bọn Mafia có toàn quyền cướp bóc kẻ thiện lương Trung ương: một bầy Việt gian đủ mánh khóe gạt lừa người cô thế Tội ác bọn chúng ngất trời không thể kê? Dã tâm lũ này dày đất chẳng cần soi Dân hằng mong được búa thiên lôi đánh vỡ Ba Đình dẹp xác ướp của lũ Hồ tặc cáo Nước luôn ước có cơn địa chấn dẹp tan Bắc phủ bỏ giáo điều của bầy Cộng tà ma Chỉ có như thế .... Nước Việt mới được hưởng thái hòa Dân Nam sẽ qua cơn hồng thủy Cuộc đời dân tôi rồi sẽ qua cơn tắt ti. Lịch sử nước nhà tức khắc khởi sắc hồi sinh Nước Nam sẽ rạng rỡ ánh bình minh Dân Việt sẽ mừng vui đời phục hoạt Tháng Tư, 2003 - 28 năm quốc hận

 

Bạn thân mến, Tôi không thể nào nhớ nổi ai là tác giả của câu thơ: “Đất lạ não lòng mỗi tháng Tư” Nghĩa là cũng giống như Bạn, như tôi, như tất cả những người Việt lưu vong trên khắp thế giới, hằng năm cứ đến tháng Tư, không ai nhắc ai, không ai bảo ai, mọi người trong chúng ta đều có những băn khoăn, ray rứt, thương nhớ, giận ghét, oán hờn, đòi đoạn khó quên, đều muốn xoay ngược kim đồng hồ để nhớ lại khoảng thời gian tháng Tư năm 1975 oán hận ngút ngàn, tiếc nhớ đầy vơi. Cũng tháng Tư này, trên bàn thờ của bao gia đình trong nước cũng như hải ngoại đang nghi ngút khói hương tưởng niệm người thân đã vĩnh viễn ra đi trong tức tưởi, nghẹn ngào. Nào là Tướng Lê-Văn-Hưng, Tướng Nguyễn-Khoa-Nam, Tướng Trần-Văn-Hai, Tướng Lê-Nguyên-Vỹ, Tướng Phạm-Văn-Phú, Tá Hồ-Ngọc-Cẩn... còn có những nhà văn, nhà báo, nhà tướng số đã ngã xuống trong tháng Tư đen như nhà văn, nhà báo Chu-Tử trúng đạn của Việt cộng, chết trên tàu di tản tháng Tư năm 1975, nhà thơ Mạc-Ly-Châu tự sát sau khi cộng sản chiếm Saigon 5 ngày, nhà tướng số Trần-Ngọc bắn vào Việt cộng tới khi súng hết đạn, chỉ chừa lại 1 viên cuối để tự kết liễu đời mình. Còn nhiều, thật nhiều những người đã ra đi oan khuất trong tháng Tư nghiệt ngã năm 1975. “Đất lạ não lòng mỗi tháng Tư” Đã hai mươi chín tháng Tư trôi qua, xứ người đối với chúng ta không còn là “đất lạ” nữa. Chúng ta đã đi từ Đông sang Tây, từ Nam đến Bắc, bởi đã nhiều năm qua, ”đất lạ” đã thành “đất quen”, nhưng cái não lòng, cái thương tiếc, cái tưởng niệm về những người đã khuất, về những gì đã không thể tìm thấy nữa, thì mỗi năm mỗi mới, mỗi lạ, và cảm giác mỗi khi tháng Tư về, không năm nào giống năm nào. Hai mươi chín năm, đủ cho một thế hệ mới sinh ra trưởng thành và dù không truyền lại cho con cháu những điều não lòng ấy, tôi tin rằng chúng đã cảm nhận được từ những tiếng thở dài của cha anh, từ những bữa cúng giỗ của người mẹ cha, với lung linh ánh nến trên bàn thờ, với ngấn lệ trong đôi mắt mẹ hiền già nua. Hai mươi chín năm đã trôi qua, ai quên thì quên, riêng tôi không bao giờ quên được năm tháng bất hạnh của một đất nước điêu linh, một dân tộc bạc phước, và một quê hương mỗi ngày mỗi đọa đầy. Dân tộc Iraq đã chịu sự đầy đọa của bạo chúa Saddam Hussein trong suốt 30 năm dài. Ngày nay, họ đã được thế giới tự do giải thoát ra khỏi sự nghèo đói, độc tài, bạo ngược để ngẩng cao đầu với nhân loại. 30 năm quá dài cho một đời người, nhưng lại không dài cho sự phục hưng của một xứ sở. Đất nước ta đã từng bị Tàu, Tây đô hộ hàng nghìn năm, hàng trăm năm, rồi bằng tất cả sức lực, ông cha chúng ta đã khôi phục được đất nước trong tay ngoại bang, để bây giờ bị một nhóm người vô thần phá nát quê hương. Ngoại bang không thâm sâu, độc hại bằng đồng chủng! Một nghìn năm, một trăm năm Tàu, Tây đô hộ, không có cảnh người người bỏ nước ra đi. Người ta chỉ lên rừng săn tìm ngà voi, sừng tê; xuống biển mò ngọc trai để triều cống cho Tàu, chứ không ai phải bỏ nước ra đi lưu vong ở xứ người như khi 1975 đất nước bị thảm họa cộng sản. Tôi chờ đến năm 2005 – thời cơ 30 năm như dân Iraq chăng? - biết đâu cái nạn mất nước được kết thúc, dân ta lục tục kéo nhau về thăm quê xưa, chốn cũ. Một năm nữa, Bạn chưa già, mà tôi cũng chửa già. Chúng ta còn đi được từ Nam ra Bắc mà chưa phải chống gậy. Chân còn cứng, gối chưa mỏi, dành lại quê hương, lòng Xuân trở nên phơi phới, trẻ lại bất ngờ đấy Bạn ơi! Ước gì... Bạn và tôi ngất ngưởng trên chuyến xe xuyên Việt, kéo nhau về giải phóng thủ đô Hà-Nội, đòi lại 36 phố phường, trả mầu xanh cho những hàng liễu rủ ven hồ Hoàn-Kiếm, trả sự tươi mát cho những bãi cỏ trên bờ hồ và trả lại sự tĩnh lặng cho Thần Tháp Rùa. Tháng Tư năm 2005. Hẹn nhau ở Hà-Nội Bạn nhé! Cùng hẹn Bạn ở thư sau nữa.

 

Khóc lên đi ! Các Giáo hội yêu quý Lời tâm huyết từ cha Lý Việt Nam Mọi tôn giáo bị xiềng xích dã man Bởi học thuyết tam vô độc đảng Lời cha Lý mở gông cùm Cộng Sản Khổ nhục hình non thế kỷ tang thương Khóc lên đi ! mọi tôn giáo thập phương Nước mắt chảy xót thương bao thế hê. Thế giới ơi ! dân Việt đẫm máu lệ Mất Tự Do , mất quyền sống làm người ! Hóa thân đi súc vật ma trơi Giữa thế giới bước sang thiên niên mới Chúng huênh hoang xây Đại Đồng thế giới Cảnh hoang đường cho Gian Dối lên ngôi Thuyết hoang tưởng súc sinh một lũ người Chánh biến Tà , giáo gian loài Quỷ Đỏ Dân ta ơi ! lời cha Lý thật rõ Quyết hủy mình cho tôn giáo được Tự Do Chẳng riêng Công Giáo ; chẳng riêng Phật đồ Chẳng riêng Tin Lành ; Cao Đài - Hòa Hảo Tay trong tay đoàn kết một hướng Đạo quyết không sợ hang hùm bầy sói lang Quyết không run trong tăm tối bẽ bàng Trước nanh vuốt cáo beo loài Quỷ Sứ Dân Việt hỡi ! dù tha phương viễn xứ Một lòng hướng về : Tổ Quốc Quê Hương Dù có bao chính kiến - khác lập trường Cuộc chiến này , hãy quy về một mối Khóc lên đi ! Các Giáo Hội trong U tối ! Lệ máu chan hòa mở lối hội Trùng Dương Tiến lên đi trong Linh ứng Thần cường Cuộc chiến này không dùng gươm gậy giáo Không súng đạn không xe tăng không cỗ pháo Toàn Dân là thành lũy không biên cương Ak - liềm - búa ! mặc chúng quậy nhiễu nhương Sẽ chẳng giết được Linh Hồn Dân Tộc Dân Việt hỡi ! cùng nhau chung góp sức Sức Thần Linh ! bầy Quỷ Dữ gục đầu Duy Vật biến tan ! trong Thần Khí Nhiệm Mầu Nung nấu Tình người hồn thiêng sông núi Việt Nam ngạo nghễ từ nay mở lối Giống Tiên Rồng dòng dõi Nước Nam Việt Nam Tổ Quốc muôn năm Ba dòng máu Đỏ - Da Vàng thiên thu . 15 04 2002 4 Cảm tác "GIÒNG HUYẾT LỆ TÂM THƯ" ĐÂU LƯƠNG TÂM THẾ GIỚI Cường bang ! Các vị lặn hơi sâu ! Liên Hiệp Quốc ơi ! Trốn ngã nào ? Lớn tiếng Nhân Quyền trên các nước, To mồm Tín Ngưỡng khắp năm châu ./ Lại lơ Việt Cộng dùng đàn áp, Chẳng thiết Cha Sư bị thúc câu ./ Đầy dẫy ngục tù vang hận oán, Lương tâm thế giới bỏ đi đâu ? Thái Dương Thành, 03-31-0 Ngô Phủ Hỡi ơi Công Chính để nơi đâu ? Bài họa Lời kêu thống thiết đã chìm sâu ? Tiếng nói Lương Tâm có lẽ nào ?!! Tổ chức Nhân Quyền còn ngái ngủ Giáo dân Đất Việt lệ rơi châu Bạo quyền Cộng Sản vung nanh vuốt Chủ chiên ai dám nói một câu : -" Khẳng quyết tự do là lẽ sống!!! " Hỡi ơi Công Chính để nơi đâu??? San Hồ thành Trần Việt Yên 03-31-04 LƯƠNG TÂM THẾ GIỚI ĐÂU? (Bài họa nghịch vận) Lương tâm thế giới bỏ đi đâu? Có thâý, có nghe Cộng thúc câu? Trung Quốc coi thường các nước lớn Việt Nam xem nhẹ cả năm châu! Bỏ tù trắng trợn người yêu nước Quản thúc Cha, Sư biết lượng nào? Tôn giáo chẳng còn, dân chủ mất! Siêu cường ông hỡi! Lặn hơi sâu! QUỐCLÂN 31/3/04.

 

Trong đời tôi, có lẽ không có biến cố nào lớn hơn trong đời bằng những ngày bỏ quê hương để trốn đi, trong đó tôi nhìn thấy ơn Đức Mẹ đã che chở tôi và gia đình. Tôi xin kể lại để một lần được công khai cảm tạ người Mẹ đã hằng nâng đỡ và cứu vớt chúng tôi. Kế hoạch của chúng tôi định vượt trạm Công an biên phòng tại cửa Gành Hào không được chu đáo và an toàn, nên chuyện quyết định ra ghe vào tháng 3 năm 1981 đã đình lại để chờ sự liên lạc của Tùng, vì Tùng là người chuyên môn làm môi giới cho tàu vượt biên ra cửa biển từ bấy lâu nay. Thời gian chờ đợi và liên lạc thấm thoát cũng gần 5 tháng. Sau cùng, vào ngày rằm tháng 8 năm đó thì chồng tôi được lệnh cho ghe di chuyển từ Hộ Phòng đến Cà Mau, và ra đến cửa sông Ông Đốc. Trên ghe có vợ chồng chủ ghe và đứa con trai nhỏ, cùng với vợ chồng tôi và cháu gái đầu lòng con của chúng tôi, lúc đó cháu vừa lên 4 tuổi. Trong ghe, chúng tôi chở mấy ngàn cây mía để ngụy trang là ghe buôn bán. Khi ghe ra đến bến tàu, nơi toán đưa rước ra cửa qui định, thì tất cả mấy ngàn cây mía đều bị hủy bỏ lên bờ và người từ hai bên bìa rừng đổ lên ghe tấp nập. Lúc đó không ai tài nào đếm nổi là bao nhiêu người. Ghe không còn chỗ để duỗi chân, người chêm ép nhau như mắm. Tôi nghe Tùng nói chuyện với anh bạn chủ ghe và chồng tôi là: "Không kiếm được tài công và thợ máy. Các anh tính sao: Có đi hay không?" Lúc ấy, trời tối đen như mực, chung quanh toàn là rừng. Trước chiếc ghe chở người vượt biên chúng tôi là một chiếc xuồng máy đuôi tôm nhỏ dẫn đường, trên có năm ba mang súng đạn. Tôi biết đã vào đường này ắt phải đi, dầu không có tài công và thợ máy. Thế là chồng tôi lên chức tài công bất đắc dĩ, và anh bạn chủ ghe phải tiếp chồng tôi châm dầu nhớt máy, nên cũng được gọi là thợ máy luôn. Hừng sáng hôm ấy, con tàu của chúng tôi lọt ra cửa biển. Bọn đưa rước quay xuồng máy trở vào bờ. Từ phía chân trời, màu hồng lợt bắt đầu xuất hiện, báo hiệu bình minh đã sang. Không khí tự do và trong lành như chưa bao giờ có trong cuộc sống tôi kể từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tôi phải hít thở không khí này vào cho thật đầy buồng phổi, rồi chuyện gì hãy tính sau, như là: cuộc đời sẽ đi về đâu, hay là chuyện gì sẽ xảy ra cho cuộc sống mai này? Suốt một buổi sáng biển đẹp và lặng yên như tờ, nhìn chung quanh, ai ai cũng hớn hở ra mặt. Tôi nghe nhiều người tâm sự với nhau thật vui vẻ. Có anh bạn bảo rằng: anh đã đi vượt biên mấy lần rồi, lúc thì bị bắt nằm tù mấy tháng, nhờ lo lót, chạy chọt đúng chỗ mới ra được; khi thì tổ chức bị bể dọc đường, may mắn mới trốn thoát được. Có chị xúc động đến rươm rướm nước mắt, chị nói: "Chuyến này may mắn thiệt, chắc chắn là tôi sẽ gặp được chồng của tôi rồi. Anh là lính Hải quân cũ, theo tàu qua Mỹ từ năm 75…" Ôi thôi, biết bao câu chuyện vui khác mà tôi được nghe. Tuy con tàu vượt biên này mới đưa chúng tôi rời được cửa biển có tí xíu thôi, vì rặng cây xanh trong bờ của cửa sông Ông Đốc vẫn còn lờ mờ đó, thế mà nỗi vui mừng và không khí tự do đã tràn đầy trong lòng chúng tôi. Chắc chắn là không một ai còn lo đến ông tổ trưởng hay khóm trưởng gọi chiều nay phải đi họp công tác thủy lợi; không còn lo ông công an khu vực bảo ghi lại lý lịch cá nhân cho rõ ràng vì có dính dấp tới ngụy quân, ngụy quyền khi đi xin việc làm nuôi sống bản thân v.v… Bây giờ thì tất cả chỉ còn là màu xanh của trời, của nước, màu hy vọng tuyệt vời của lòng. Đây là giờ phút được sổ lồng khỏi sự kìm kẹp, để thấy được trọn vẹn cái nghĩa của hai chữ ‘tự do’ trong cuộc sống mà chính mình đã bị cướp mất. Niềm vui thì ai cũng muốn kéo dài mãi cho đến vô tận, nhưng chẳng ai được toại nguyện cả. Sóng gió lại bắt đầu đến với cuộc đời, vì sau một buổi sáng tuyệt đẹp, biển lặng như tờ đó thì trưa đến, gió bắt đầu thổi mạnh, mây đen từ đâu ùn ùn kéo về bao phủ cả góc trời. Sóng trắng xóa từng lượn bỏ vòi lên cao nghệu như muốn nuốt trửng con tàu bé nhỏ của chúng tôi. Nước tràn lênh láng vào tàu. Những người trên tàu bắt đầu hoảng sợ, hỗn loạn lên. Tiếng la khóc của trẻ nhỏ, tiếng người lớn la lối, cãi vã nhau vì dành những thùng đựng xăng dầu để làm phao cấp cứu cho cá nhân họ. Trên tàu có khoảng trăm người, mà thùng đựng dầu thì có hơn chục thôi, thì ai có, ai không? Chắc chắn là sẽ có một trận xô xát giật giành. Còn nước thì không ai lo tát ra khỏi tàu mà cứ định ôm thùng nhảy xuống biển. Trong cảnh hỗn loạn như vậy, tôi nghe tiếng chồng tôi la lớn từ phòng lái vọng vào: "Đừng có sợ! Hãy lo tát nước ra đi. Các anh liệu ôm thùng nhảy xuống biển là sẽ sống được hay sao?" Tiếng la rất lớn của chồng tôi đã làm mọi người lấy lại chút bình tĩnh, nên họ đã cùng nhau lo tát nước ra khỏi tàu. Cám ơn trời đất đã làm cho họ biết chia sẻ với chúng tôi trong lúc khốn khó này. Còn phần chồng tôi không biết lúc đó như thế nào, khi một mình phải lèo lái con thuyền trong phong ba bão táp như thế, một tài công bất đắc dĩ, chỉ biết nhắm mắt đem con tàu từ Hộ Phòng đến Cà Mau bằng đường sông thì giờ đã trở thành tài công ra biển cả. Khoảng vài ba phút sau đó, tôi lại nghe tiếng chồng tôi hỏi vọng vào: "Xin hỏi dùm, ai là người lớn tuổi trong ghe, đạo gì? Hãy đọc kinh dùm!" Giọng nói chồng tôi lúc đó thật nghiêm trọng, đã làm cho tôi phải rùng mình, nổi da gà hết cả người. Rồi ai nấy đều tụng niệm. Kẻ đạo Phật, người đạo Chúa, tất cả đều cầu nguyện cho được bình an, tai qua nạn khỏi... Không biết có phải nhờ thế mà con tàu nhỏ xíu này, chở gần cả trăm người đã tự dưng biết nương theo sóng gió mà ra khơi, phút chốc đã mất hút bến bờ, giống hệt như những chiếc tàu lớn chuyên nghiệp vượt biển, mặc dù trời đang giông bão dữ dội. Lúc đó, chắc ít ai nghĩ sâu xa đến sự linh thiêng của lời cầu nguyện. Tất cả chỉ đọc để trấn an lòng mình, để khỏi phải suy nghĩ mông lung, để quên đi bão táp. Có người lạy cả chồng tôi xin cứu dùm mạng sống mọi người trên tàu, vì cứ tưởng là đã gặp được tài công thứ kinh nghiệm nhà nghề rồi. Đến nửa đêm hôm đó thì hệ thống bơm nước để giải nhiệt máy bị hư. Mọi người phải thay nhau múc nước đổ vào máy thay bơm. Sóng gió và sợ hãi đã làm mọi người quá mỏi mệt nên không còn nghe tiếng cười nói nữa. Cơn lạnh và đói đã kéo đến hoành hành. Có người biết lo xa, họ mang theo kẹo, bánh, chanh, đường v.v… Còn như chúng tôi thì phần bận rộn, chạy đôn chạy đáo lo cho chuyến vượt biên, phần thì ỷ y đã có mấy ngàn cây mía trên ghe, lại còn gạo thóc, soong nồi mang theo. Nhưng mía thì bị thảy lên bờ để chở người, và gạo củi soong nồi thì giờ đã bị sóng nước biển làm ướt hết rồi. Cũng may còn vài chục cây mía lúc ra cửa sông dùng để lót chỗ ngồi, thế là chia nhau mỗi người một khúc ngậm lấy nước ngọt mà cầm cự đôi ba ngày. Phần chồng tôi, sau một đêm đứng chịu sóng gió một mình, đã thấm mệt. Nhưng chẳng có ai thế dùm để nghỉ ngơi giây lát, vì mỗi khi có người thay tay lái thì chiếc tàu tròng trành như sắp lật úp lại. Sợ quá, mấy người trên tàu phải năn nỉ chồng tôi trở lại tay lái. Trong lúc đó, cũng có một số khách của Tùng gửi đi lúc ra cửa sông, cứ tưởng là chồng tôi đã lấy tiền vàng để làm tài công cho tàu này, nên họ hăm he sẽ thảy chồng tôi xuống biển, nếu không chịu cầm lái con tàu này đến bến bờ. Thế thì dù có mệt mỏi đến đâu, chồng tôi cũng phải đứng chịu tay lái, vì tình ngay mà bị lý gian. Cũng để cho sóng gió đừng lôi ông tài công tài giỏi này xuống biển bỏ họ, anh em trên tàu đã chia phiên nhau giữ hộ hai bên cánh tay chồng tôi để khỏi bị té và kiệt lực. Họ còn dùng giây cột bàn chân của chồng tôi vào cây điều khiển bánh lái tàu để khỏi vuột sút ra. Cứ như thế, chiếc tàu nương theo sóng gió mà đi... Đến ngày thứ 5 thì trên tàu xảy ra chuyện chẳng may. Bắt đầu là ống quần của một anh trên tàu bị máy buộc vào và đập gãy nát ống xương chân. Thật là đau đớn. Anh kêu la suốt ngày. Vậy mà qua ngày hôm sau, đứa con của anh lại chết vì đói khát. Đến ngày thứ 7 lênh đênh trên biển, một cơn mưa kéo đến. Mọi người tự dùng miếng vải ny-lon nhỏ của mình để hứng nước. Tôi cũng cố gắng đứng dậy để kiếm ít nước mưa cho con, thì thình lình một cơn sóng mạnh đập vào mạng tàu trong lúc tôi chưa kịp giữ thăng bằng nên đã ngã té. Thế là thai bị chấn động và sau đó tôi chuyển bụng sinh một cháu trai, trong khi tàu đang lênh đênh giữa biển khơi này. Cháu ra đời và một anh bạn là lính trợ y cũ, biết chút căn bản về sinh đẻ, đã dùng một miếng kiếng bể để thay dao, cắt giây nhau rún cho cháu. Thằng con trai tôi khóc chào đời chẳng bao lâu thì đứa con gái đầu lòng của tôi lại trút hơi thở cuối cùng. Rồi vài tiếng đồng hồ sau khi chào đời, không một mảnh vải khô che thân, không sữa bú, và có lẽ vì bị nhiễm trùng, vì không có dao mà dùng kiếng để cắt cuống nhau, nên cháu đã bị kinh phong giật rồi chết. Tôi chưa kịp đặt tên thì cháu đã ra đi theo chị của cháu rồi! Vài người lớn tuổi trên tàu đề nghị với vợ chồng tôi nên đặt tên cho cháu trước khi thả thi hài xuống biển. Chúng tôi nghe và đặt tên cho cháu là Lý Bửu Long. Tôi đau xót nhìn người ta ôm xác hai con thả xuống biển, và âm thầm khấn xin hai con là Lý Tú Anh và Lý Bửu Long phù hộ cho cha mẹ cũng như mọi người trên tàu được đến bến bờ bình an. Tôi không bao giờ quên được hình ảnh đau thương tột cùng đó trong quãng đời còn lại này, quãng đời mang nặng tâm tình người mẹ luôn dành hết tấm lòng, hết tình thương cho con, lúc nào cũng yêu thương những khúc ruột mang nặng đẻ đau của mình. Tôi có thể chết để con tôi được sống, tôi có thể đói để con tôi được no, tôi có thể khổ để con tôi được sung sướng, thế mà bây giờ tôi đã chịu bó tay nhìn con chết và nhìn thi hài con trôi lênh đênh trên biển cả. Lúc ấy chỉ có trời đất mới thấm thía và hiểu được lòng tôi xót xa như thế nào! Tôi sống như xác không hồn, chẳng còn vui sướng nào ở thế gian này làm tôi quên đi hai đứa con đã chết đó. Rồi khoảng nửa giờ sau thì chiếc tàu của chúng tôi cũng chết máy luôn. Tay lái tàu đành cột lại cẩn thận để mặc cho sóng gió muốn đưa con tàu về đâu cũng được. Nhờ vậy mà chồng tôi được nghỉ ngơi chút ít, chứù không thì làm sao sống nổi, khi thân xác chỉ còn da bọc xương và sức khỏe thì gần như kiệt quệ. Tôi nhớ ngoài những người hiểu lầm, quyết làm khó dễ chồng tôi, có chị Lý Diêm Ken là vợ của anh chủ tàu, đã không ngần ngại nói sự thật để đính chính và bênh vực chồng tôi. Khi biết rõ ràng là vợ chồng tôi cũng phải bỏ tiền ra để đi và phải làm tài công bất đắc dĩ thì mọi người đều xin lỗi và thương chia sự bất hạnh của hai cháu qua đời. Tôi hết lòng biết ơn chị Ken, đã không sợ sệt để nói ra sự thật. Nhưng chúng tôi cũng rất buồn vì một số bạn bè khác đã im hơi lặng tiếng vì sợ liên lụy, và tồi tệ hơn nữa, có vài người lại a-dua theo đám khách hiểu lầm này để gây thêm áp lực xấu, bắt chồng tôi phải sống chết theo tay lái tàu. Sau khi tàu chết máy vài hôm thì chị Ken và cháu Cảo-Kía con của chị cũng qua đời vì kiệt lực, và vài ba người nữa cũng đã chết. Tình trạng sức khoẻ của tôi cũng quá yếu. Tôi lúc tỉnh lúc mê, vì sinh nở đã ba bốn hôm mà chẳng thuốc men, chẳng ăn uống gì, tệ hơn nữa là nhau vẫn còn nằm trong bụng. Có người kể lại là tôi đã mê man mấy ngày liền. Sau cùng, trong cơn mê dài này, tôi đã thấy một người phụ nữ bận đồ trắng, dùng tay xoa lên ngực tôi và đánh thức tôi dậy. Khi tỉnh lại, tôi thấy như có vật gì nằng nặng đè lên ngực. Sờ thử thì thấy đó là một xâu chuỗi hạt màu xanh lá mạ với tượng một người phụ nữ. Lúc đó gia đình tôi chưa vào đạo nên tôi chỉ biết xâu chuỗi của người Công giáo mà thôi. Tôi thều thào hỏi: "Cái này của ai làm rớt?" Không ai trả lời. Tôi nhờ một anh bên cạnh chuyền tay mọi người trên tàu coi của ai đánh rớt. Nhưng chẳng ai nhận và họ hoàn trả lại tôi. Tôi nghĩ chắc xâu chuỗi này là của một trong những người có đạo trên tàu, thấy hoàn cảnh sinh nở và khốn khó của tôi, đã để xâu chuỗi trên ngực tôi trong lúc tôi mê man, mong người phụ nữ trong xâu chuỗi giúp đỡ cho tôi. Cuối cùng, tôi đeo xâu chuỗi ấy vào cổ mình. Khoảng vài ba phút sau, tôi nghe như trong bụng có cái gì gò lên, tôi dùng tay đè nó xuống. Thế là nhau còn ứ trong người tôi tự động tuôn ra ngoài. Tôi cảm thấy khỏe lại thật nhiều. Có thể nhờ xâu chuỗi mà sự may mắn này đến với tôi chăng? Nâng niu và ngắm nhìn tượng người phụ nữ trên xâu chuỗi, tôi thấy bà có nét dịu hiền dễ thương. Tuy chưa biết bà là ai, tên gì, mà tôi đã được may mắn. Bây giờ tôi thực sự xin bà hãy đưa dẫn chúng tôi đến bến bờ bình an. Tôi đeo xâu chuỗi vào cổ, rồi lại mê man thiếp đi. Rồi ai lay tôi tỉnh dậy. Mở mắt ra, tôi thấy mọi người chung quanh đang hớn hở xôn xao. Một chiếc thang giây và tấm băng ca đang thòng xuống trước mặt tôi để chuẩn bị đưa tôi qua tàu lớn. Thế là chúng tôi đang được tàu lớn vớt sau 15 ngày lênh đênh trên biển cả. Tôi là người đầu tiên được đưa qua tàu bằng băng-ca. Tất cả có 61 người còn sống sót, 8 người đã chết và đã được thủy táng. Chiếc tàu tuần dương này của Mỹ mang tên Southern Cross. Vị hạm trưởng là người Công giáo. Ông nói rằng trước đây mấy ngày, ông luôn thấy bồn chồn khó chịu trong người. Đáng lẽ tàu này phải đi công tác xa, nhưng ông đã ra lệnh cho ở lại và tuần rảo quanh vùng biển vài hôm xem thế nào. Rồi ông đã thấy con tàu nhỏ bé của chúng tôi đang gặp nạn nên ra lệnh vớt chúng tôi. Bây giờ, lòng ông không nóng nảy bồn chồn nữa, mà cảm thấy bình an và vui vẻ trở lại. Ông cho biết, cơn bão tháng này đã đưa chúng tôi trôi giạt vào hải phận Phi Luật Tân. Nước này cũng có trại tỵ nạn cho người Việt Nam, nhưng vì sức khỏe mọi người đã hoàn toàn kiệt quệ nên ông quyết định cho quay mũi hướng về Singapore, vì theo ông, nơi đó có trại tỵ nạn tốt và có đủ thuốc men trị liệu hơn. Thế là suốt hai ngày đêm, tôi được nằm trong phòng có máy điều hòa không khí trên tuần dương hạm, được chăm sóc rất tận tình, chu đáo. Rồi đến Singapore thì phải rời tàu để vào bệnh viện cấp cứu. Vị hạm trưởng tặng anh chị em chúng tôi mỗi người một cái áo thun có tên tàu để làm kỷ niệm. Chúng tôi đều rất xúc động và cám ơn tình cảm chân thành của hạm trưởng và thủy thủ đoàn trên chiếc tuần dương hạm này. Vì tình trạng của tôi quá yếu nên phải nằm ở phòng cấp cứu của bệnh viện tại Singapore hơn hai tuần lễ liền. Nhân viên phòng cấp cứu sợ tôi bị nhiễm trùng bởi xâu chuỗi đang đeo, nên buộc lòng tôi phải tháo bỏ đi phần chuỗi và chỉ xin giữ lại phần tượng để làm kỷ niệm. Sau đó, tôi được xuất viện để trở qua trại tỵ nạn. Trại tỵ nạn tuy nhỏ nhưng rất khang trang, sạch sẽ. Tôi vẫn còn yếu sức, tinh thần thì sụp đổ vì đã mất mát hoàn toàn, nhất là mất hai đứa con trên biển cả. Thấy tôi thẫn thờ như người mất hồn, các bác sĩ và y tá của Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế làm việc thiện nguyện tại đây đã hết lòng an ủi và chăm sóc tôi rất kỹ. Trong số các bác sĩ, có bà bác sĩ người Úc tên là Margaret. Bà nghe nhiều người kể lại về chiếc tàu vượt biển bé nhỏ của chúng tôi đã lênh đênh trên biển cả suốt 15 ngày đêm, không thứùc ăn, không nước uống, có người chết và người sinh nở trên tàu, nên bà đã tìm gặp tôi để an ủi và nói chuyện. Bà bảo: nếu không thấy tận mắt, không nghe tận tai và không nói chuyện với tôi thì bà hoàn toàn không tin là có một người đàn bà sinh nở trên biển, không thuốc men, không ăn uống, nhau nằm trong bụng 4, 5 ngày mà vẫn còn sống. Bà hỏi: phép lạ nào đã giữ được mạng sống tôi như thế? Tôi thuật lại mọi chuyện và đưa cho bà coi tượng người phụ nữ mà tôi nhặt được trên ngực của tôi lúc tôi hôn mê. Sau khi xem tượng, bà bác sĩ làm dấu Thánh giá, rồi nói cho tôi biết: đây là tượng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Bà quả quyết chỉ có tình thương của Mẹ mới cứu sống tôi trong cảnh ngặt nghèo như vậy thôi. Rồi bà bảo, khi trở về Úc, bà sẽ viết lại câu truyện về "phép lạ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã cứu một người ngoại đạo," để đăng trên báo chí và tôn vinh Mẹ giúp cho tôi. Bà còn hỏi: hiện tại tôi cần đến bà giúp cho điều gì. Tôi xin bà thưa lại với phái đoàn Cao Ủy là cho tôi ở lại trại tỵ nạn Singapore để giúp đỡ những người tỵ nạn khác. Hiểu ý tôi vì quá thương hai con đã mất và thủy táng ở vùng biển nước này, nên chỉ ước muốn được sống quanh quẩn bên vong linh hai trẻ; bà khuyên tôi nên nghĩ lại, trước là phấn đấu cho sức khỏe thể xác, sau là được bình an trong tâm hồn, rồi phải đi định cư cho tương lai cá nhân mình, để còn lo cho cha mẹ, anh em còn lại tại Việt Nam. Sau đó, vợ chồng tôi được di chuyển qua trại Galang II và được đi định cư tại Mỹ vào tháng 10 năm 1982.

 

Một đêm hãi hùng vào năm 1964, trong khi cha mẹ tôi đang ngồi ăn cơm trong nhà tại thành phố Nha Trang thì có 2 cán bộ Cộng sản vào nhà bắn chết cha tôi. Chúng định giết mẹ tôi luôn nhưng mẹ tôi lúc đó đang mang thai nên chúng bỏ đi. Ba tháng sau, vào tháng 12 năm 1964 tôi chào đời, không bao giờ được trông thấy mặt cha tôi cả. Trước đó cha tôi làm việc cho người Mỹ tại Nha Trang. Ðến năm 1967 thì mẹ tôi tái giá và tôi được đưa về ở với bà ngoại tôi. Khi về ở với bà ngoại thì tôi phải tự lo lấy mọi việc một mình, không ai giúp đỡ cả. Sau đó bà tôi quyết định gửi tôi vào nhà tu Công Giáo tại Nha Trang. Tôi đi tu từ lúc 5 tuổi và mỗi tháng về nhà 1, 2 lần để thăm bà ngoại tôi thôi. Khi Cộng Sản chiếm miền Nam vào năm 1975, tu viện phải đóng cửa và tôi phải về nhà bà ngoại tôi. Lúc đó tôi đã 11 tuổi rồi. Khi xong Trung Học, muốn vào trường Ðại Học rất khó khăn. Mặc dù tôi đã thi đậu, nhưng vì lý lịch cha tôi không phải là đảng viên Cộng sản nên tôi không được nhận. Nhưng khi tôi đậu được điểm rất cao vào kỳ thi năm sau thì họ cho tôi vào học. Tôi học môn văn chương Việt-Nam và sau khi tốt nghiệp cũng không kiếm được việc làm vì gia đình tôi không phải thuộc thành phần đảng viên Cộng Sản. Trong khi tôi học ở Trung Học và Ðại Học tôi đã định vượt biên nhiều lần mà không được Lúc tôi học lớp 11 tôi vượt biên bằng thuyền thì bị bắt. Họ nhốt tôi 3 tháng, mỗi ngày cho ăn 2 bát cơm không, sau đó mẹ tôi và bà tôi lo đút lót tiền cho công an nên họ thả tôi ra. Sau khi xong Trung Học tôi lại vượt biên lần nữa và cũng bị bắt. Lần này vì tôi đã trên 18 tuổi nên họ giam tôi 1 năm. Mẹ tôi và bà ngoại tôi lại phải chạy tiền đút lót để tôi được thả. Vào tù nếu không có tiền thì sẽ bị công an đánh đập, nếu có tiền thì cái gì cũng xong hết. Khi tôi tốt nghiệp xong Ðại Học được đi dậy học tại trường Trung Học Lý Tự Trọng. Sau đó một năm tôi lại vượt biên lần thứ tư và lần này tôi đã may mắn đi thoát. Chúng tôi có tất cả 42 người trong chuyến đi. Gom góp tiền bạc mua tầu để vượt biên. Chúng tôi khởi hành ngay tại bờ biển Nha Trang lúc 4 giờ sáng. Khi được hiệu lệnh cả 42 người chúng tôi chỉ có đúng 5 phút là phải leo lên tầu. Chúng tôi lênh đênh trên biển cả 2 tuần lễ. Hai ngày đầu ai cũng bị say sóng. Chung quanh, trên dưới chúng tôi chỉ có trời và biển. chúng tôi bị một cơn bão lớn nhưng may mắn qua khỏi. Chúng tôi đã chấp nhận cái chết từ ngay lúc bước chân lên tầu rồi nên tâm hồn rất thanh thản. Sau 1 tuần, thì chúng tôi hết nước và lương thực, chúng tôi phải tìm cách bắt cá và ăn cá sống. Ðến ngày thứ 10 thì tầu của chúng tôi chết máy. Chúng tôi không biết làm gì nữa. Qua đến ngày thứ 11 thì chúng tôi gặp một chiếc tầu lớn, họ cho chúng tôi nước uống và thực phẩm nhưng không giúp sửa máy móc của tầu chúng tôi được. Ðến ngày thứ 12, chúng tôi gặp được 3 ghe đánh cá của người Phi Luật Tân, chúng tôi vời họ lại và điều đình xin họ kéo chúng tôi vào bờ và chúng tôi sẽ trả tiền. Họ bằng lòng và chúng tôi vào được một hòn đảo. Trong 2 tuần lênh đênh trên biển cả thì nhóm chúng tôi có 2 người chết vì uống nước biển, chúng tôi phải liệng xác họ xuống biển. Khi đến bờ biển chúng tôi lăn quay ra ngủ trên bãi cát vì kiệt sức, sau đó mở choàng mắt dậy thì thấy nằm trong nhà thương và 2 ngày sau người ta chuyển chúng tôi đến trại tị nạn, ở đây chúng tôi gặp rất đông người tị nạn đã đến trước chúng tôi. Tại trại định cư trên đảo Palawan người ta cho chúng tôi ăn uống đàng hoàng, cung cấp chỗ tắm rửa và ngủ nghê. Chúng tôi cảm thấy sung sướng vì đã thoát tay Cộng Sản nhưng vẫn ưu tư về tương lai. 40 người chúng tôi được chia vào những căn lều khác nhau. Sau 3 tuần chúng tôi được đi học tiếng Anh mỗi tuần 1 giờ. Trong khi đó thì có rất nhiều phái đoàn từ mọi quốc gia đến thẩm vấn nhận người tỵ nạn. Tôi mới đầu được phái đoàn Pháp Quốc phỏng vần nhưng họ không nhận, cũng may vì tôi chỉ thích vào Mỹ thôi. Lần sau tôi được phái đoàn Mỹ phỏng vấn nhưng cũng không được nhận. Họ nói rán đi chờ lần tới. Tôi ở thêm một năm tại trại Palawan qua 5 lần phỏng vấn và lần sau cùng tôi được chấp nhận cho định cư tại Hoa Kỳ. Chúng tôi được chuyển sang trại Bataan để chờ vào Mỹ. Tính lại tôi đã phải ở Phi Luật Tân gần 3 năm. Tôi sung sướng rời khỏi Palawan nhưng phải công nhận tôi có rất nhiều kỷ niệm ở đó. Khi đã quen thuộc với nếp sống, tôi đã giúp rất nhiều người cùng hoàn cảnh bớt nhớ nhà, khuyên nhủ họ chấp nhận và làm quen với nếp sống mới. Tại đây chúng tôi luôn luôn có hy vọng được một nước thứ ba chấp nhận cho vào định cư, dù không biết là đi đâu, nhưng luôn có hy vọng . Tôi phải ở lại Bataan hơn 1 năm vì giấy tờ trục trặc phải làm đi làm lại. Tại đây tôi đi học buổi sáng để trau dồi thêm tiếng Anh, đến chiều tôi lại giúp giáo sư Mỹ dịch cho người Việt biết nếp sống và phong tục nước Mỹ. Ngoài ra tôi còn giúp phái đoàn Mỹ thẩm vấn người tị nạn. Buổi tối tôi giúp dậy tiếng Việt cho trẻ em và cuối tuần tôi giúp nhà thờ. Khi tôi rời Bataan tôi hơi buồn vì ở đó tôi đã có quá nhiều kỷ niệm và suy nghĩ nhiều về tương lai khi vào Mỹ là đi học thêm hay kiếm việc làm ngay. Khi tôi đến thành phố Buffalo, TB. Nữu Ước, tôi đã khóc rất nhiều vì tôi không hiểu người ta nói gì và người ta cũng không hiểu tôi nói gì vì giọng nói quá khác biệt. Tôi lo lắng không biết tôi sẽ sống làm sao tại nước Mỹ này. Ngày nào tôi cũng lo âu và khóc lóc. Sau đó một tuần tôi thầm nghĩ mình phải làm cái gì chứ để sống còn. Hai tuần lênh đênh trên mặt biển và 3 năm ở đảo tôi sống được cơ mà. Thế là dưới cái lạnh lẽo tuyết giá tại Buffalo, mỗi ngày tôi lội bộ 30 phút để đến trường, học thêm tiếng Mỹ từ 8 giờ sáng đến 2 giờ chiều, Sáu tháng sau tôi đã tự túc được nhiều và tôi quyết định ghi danh học tại Ðại Học Buffalo để lấy bằng cấp. Năm đầu tiên thật là khó khăn, vì vị giáo sư nói nhanh quá tôi không theo kịp. Tôi phải đem vào lớp máy thu băng để về nhà học thêm và đọc nhiều sách hơn. Sau một năm cố gắng như vậy, điểm trung bình của tôi đã khá hơn nhiều. Tôi cảm thấy sung suớng và tự tin hơn. Tôi đã có bạn bè người Mỹ và vì đó tôi trau dồi thêm tiếng Mỹ. Tôi lại phải tìm việc làm bán thời gian để kiếm tiền để sinh sống và thỉh thoảng gửi về giúp mẹ và bà ngoại tôi. Sau 4 năm chuyên cần học tập tôi đã ra truờng và tìm được việc làm tại Memphis là nơi ấm áp hơn và tôi nghĩ là tôi đã thực sự may mắn. Anton Vo đậu bằng hoá học y dược và hiện đang làm việc cho Khu Dược Y tại nhà thương của thành phố Memphis, TB Tennessee

 

Bạn trẻ thân yêu, Tôi chưa có dịp đi nhiều tiểu bang để biết rõ về tổ chức các Cộng Đồng Dân Chúa từng địa phương, nhưng chung quy cũng không nhiều khác biệt. Bạn đang sống trên một xứ Tự Do, được thiên nhiên ưu đãi. Đất nước này giàu có, tất cả mọi tiện nghi dành cho đời sống đều đầy đủ. Bạn đến nhà thờ mà không cảm thấy điều gì khác lạ trong môi sinh. Bởi vì nhà thờ mở máy lạnh khi trời nóng, mở "hít" khi trở lạnh. Bạn được người phụ trách mời vô hàng ghế còn chỗ trống. Bạn chứng kiến vị Linh Mục sẽ cùng giáo dân dâng thánh lễ đang từ từ tiến ra bàn thờ, theo sau người cầm Thánh Giá có tượng chịu nạn và một giáo dân hai tay dâng cao sách lễ cùng vài thiếu niên giúp lễ. Sau khi ban đồng ca dứt bài mở đầu thánh lễ, bạn nghe hai bài đọc, nghe phúc âm, nghe Cha giảng, cùng cất tiếng thưa sau lời xướng của linh mục chủ lễ, cùng đọc kinh Lạy Cha. Vừa dứt lời của vị chủ lễ: - Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau! bạn nắm chặt tay những người quanh bạn, miệng chúc nhau sự Bình An của Chúa. Lúc lên rước Lễ do Linh Mục hay giáo dân phụ trách trao Mình Thánh, bạn đi theo thứ tự đã được sắp xếp. Bạn chịu Mình Thánh (MT), hoặc há miệng để người trao MT đặt vô, hoặc giơ bàn tay trái để nhận MT. Tay phải bạn cầm MT đưa lên miệng. Nếu muốn, bạn cũng dừng lại nơi giáo dân đang giơ cao chén Thánh. Bạn cầm chén, nhấp chút rượu lễ đã trở nên Máu Thánh Chúa. Bạn trở về chỗ ngồi... Thánh lễ được tiếp tục cho đến khi Thầy Cả xướng: - Thánh Lễ đã xong, chúc anh chị em về bình an! Bạn ra khỏi thánh đường, thong thả, trật tự, im lặng. Đó là hình ảnh, âm thanh bạn cũng như tôi ghi nhận được. Tổng quát là như vậy. Nên bạn khó hình dung được khung cảnh trong khu vực thánh đường ngày xưa, trên nủa thế kỷ về trước ở một xứ đạo Việt Nam. Tôi xin ghi lại một vài hình ảnh về sinh hoạt Xứ Đạo Ngày Xưa, hy vọng giúp Bạn Trẻ nào muốn tìm hiểu. 1- Thánh Lễ Tôi lấy ví dụ tại xứ đạo "Đài Môn" thuộc huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, địa phận Bùi Chu, Miền Bắc Việt Nam. Trái với Miền Nam mưa nắng hai mùa. Miền Bắc có 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông phân biệt rõ ràng. Thời gian đó, nông thôn chưa có điện. Mùa hạ nóng như thiêu đốt. Vào nhà thờ phải đem quạt theo. Thường là loại quạt giấy xếp gọn được. Trong thời gian dự lễ, chỗ nào cũng thấy cái quạt hoạt động liên tục. Chỉ trên cung thánh được thắp sáng trưng bởi nến và đèn dầu. Còn mỗi gian bên dưới chỉ có một ngọn đèn dầu leo lét. Bà con đọc đủ các thứ kinh đã in trong sách kinh do địa phận ấn hành và được Đức Thầy (Giám Mục) cai quản ban phép. Đến giờ, Cha chủ lễ từ phía sau gian thánh bước ra, theo sau hai "chú" giúp lễ. Chỉ có lễ hát mới có đồng ca. Lễ thường chỉ đọc kinh. Cha làm lễ trên bàn thờ. Nếu không phải lễ "hát", ngài không lên tiếng. Giáo dân theo từng động tác của ngài và làm theo mọi quy định bất thành văn. Khi nghe tiếng chuông nhỏ mà một chú giúp lễ lắc qua lắc lại, giáo dân nhìn lên bàn thờ, thấy Cha đang dâng Mình Thánh.... Lúc lên rước lễ, mạnh ai nấy đi xen vào hai hàng dọc, tiến lên bệ quỳ có tay vịn. Hai tay nâng tấm khắn trắng đã được mắc sẵn lên trước ngực, chờ Cha cho chịu Mình Thánh. Chỉ có Cha mới được cầm Mình Thánh để trao. Sau đó Cha trở lại bàn thờ, tiếp tục phần dâng lễ còn lại. Cha ban phép lành bằng cử chỉ, Cha không lên tiếng. Giáo dân cúi đầu làm dấu Thánh rồi đọc kinh cho đến hết. Đó là những giáo dân ngoan đạo. Còn những người "ít sốt sắng hơn" chỉ chờ Cha ban phép lành xong là ùa ra cửa nhà thờ, ồn ào! Lễ hát thì Cha lên tiếng. Cha xướng, hội Hát (Ca Đoàn) hát theo. Toàn bằng tiếng La Tinh. Không ai, hay có rất ít, hiểu nội dung kinh lễ từ đầu đến cuối. Bây giờ ở khắp nơi trên thế giới, giáo dân cùng linh mục dâng lễ. Các ngôn từ xướng, đáp trong thánh lễ đều bằng tiếng địa phương. Của lễ là bánh thánh và rượu nho, do những người tình nguyện, từ cuối thánh đường bước lên chỗ linh mục chủ lễ đang đứng chờ sẵn để tiếp nhận. Như vậy là tất cả mọi người có mặt dâng lễ, không phải như ngày xưa, của lễ do linh mục đem tới. Giáo dân thường rủ nhau đi xem lễ, chưa có ý niệm và hành động cùng với linh mục dâng lễ như ngày nay. 2- Rước Kiệu Ngày xưa, chiếc kiệu rất nặng. Thân kiệu làm bằng gỗ quý, được chạm trổ công phu. Khung kiệu phải 8 người khiêng. Tượng trong kiệu thay đổi tùy theo Lễ Thờ Kính. Tháng 4 dương lịch, kiệu Phục Sinh thường được tổ chức vào thứ bảy, ngày trước Lễ Phục Sinh. Riêng tháng 5 dương lịch được gọi là tháng Hoa, mái kiệu được trang trí các giây bông Sứ. Kiệu Lá trong dịp Lễ Lá được kết bắng những lá mà giáo dân được phân phát sau khi Cha làm phép để mang theo. Tháng 10 dương lịch là Tháng Mân Côi, trên kiệu có tượng Đức Mẹ cầm Tràng Hạt Mân Côi... Trong đám rước Kiệu có xứ đạo tổ chức Phường Bát Âm, dạo nhạc bằng các nhạc khí cồ truyền. Cũng có xứ tân tiến hơn: đội Kèn Tây. Thời thuộc Pháp, cái gì của Tây được gán cho Tây, phân biệt với vủa Ta. Cả ngàn năm Bắc thuộc và trăm năm bị Pháp đô hộ, những danh xưng của Tầu, của Tây là phân biệt rõ ràng do Ông Cha cố ý. Thành ra Phương Bắc và Phương Tây dù quyết liệt đem văn hóa của họ vào, muốn đồng hóa với các phong tục tập quán của Ta, luôn luôn thất bại. Nhưng xin trở lại với nội dung bài viết. Ngoài các đội Bát Âm, Kèn Tây, Hội Trắc (gõ nhịp bầng các thanh trắc), thành phần đám Rước Kiệu dĩ nhiên gồm các đoàn thể sở tại như: Nghĩa Binh Thánh Thể, Trung Binh, Hội Hát nói chung, các xứ đạo có các hội đoàn có tính cách địa phương, ví dụ Hội Dòng Ba, Hội Áo Đức Bà, Hội Hướng Đạo Sinh Công Giáo... 3- Hang Đá. Phần nhiều các xứ đạo thực hiện Hang Đá trong dịp lễ Giáng Sinh trên một địa điểm gần thánh đường, để con Chiên có thể viếng Chúa Hài Đồng bất cứ ngày đêm, kể cả trong thời gian Nhà Thờ không mở cửa. Hang đá thông thường tại những nơi mà tôi biết, là công phu của tập thể. "Đá" là những tờ giấy báo, được quét một nước vôi có pha màu tro, phơi khô rồi kết lại giống viên đá. Nhiều người làm "Đá" từ nhà, đem tới kết vào "hang đá" đã có sẵn khung sườn. Sau khi hoàn tất, tuy không thể so sánh với các công trình hiện đại, nhưng cũng khá giống Hang Đá trong các tranh Hang Be Lem... 4- Ngắm Đứng Vào mùa Chịu Nạn. Các xứ đạo tổ chức ngắm "15 Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu". "Ngắm" vào buổi tối trong nhà thờ. Bàn "ngắm" cũng giống như cái bục thuyết trình bây giờ, hướng lên Cung Thánh. Sách "ngắm" gồm các trang giấy bản in bắng Chữ Nôm, không phải quốc ngữ. Người "ngắm" đứng trên bục, đọc sách, lên giọng tùy theo địa phương. Chỉ các "quan viên", tức các viên chức của xứ Đạo mới được lên "ngắm". Quan Viên được một hồi trống cơm thỉnh lên bục "ngắm" và khi bước xuống. Hồi còn nhỏ, tôi rất thán phục quan viên. Tôi đinh ninh là ông nào cũng chữ Nôm đầy mình. Nếu không làm sao đọc sách được? Nhưng sau này, tôi được biết không phảo quan viên nào cũng biết chữ Nôm! Sở dĩ ổng ngắm thao thao vì ổng đã thuộc lòng bài ngắm. Trong khi đọc, ổng làm bộ lật sách ra cái điều ... biết chữ Nôm! Ngắm Đứng chấm dứt vào tối Thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday). 5- Y Phục Các Đoàn Thể Ngoài y phục của các "chân kiệu", tức người khiêng kiệu, tôi chỉ còn nhớ y phục của đoàn Nghĩa Binh Thánh Thể, vì tôi từng đi kiệu trong hàng ngũ này. Con trai: quần dài trắng, áo dài trắng; con gái áo dài trắng, quần dài đen (quần áo thường, không phải quần áo Tây (Âu Phục). Trên ngực áo và sau lưng áo, con trai có đính thánh giá bằng vải màu đỏ, con gái thánh giá bắng vải màu xanh. Nếu là rước kiêu trong tháng hoa, trên tay chúng tôi còn cầm một nhánh hoa Đại (bông Sứ). Những người khiêng kiệu bên ngoài quần áo dài, còn mặc thêm chiếc áo nẹp đỏ, như kiểu lính thú đời xưa. Có nơi, "chân kiệu" còn đội nón chóp, thứ nón nhỏ đầu nhọn, viền đỏ. Hội Kèn Tây Âu phục màu trắng. Hội bát âm áo dài khăn đóng màu đen. "Con Chiên" theo kiệu y phục chỉnh tề. Hồi đó nam nữ đều mặc áo dài. Bạn Trẻ, Trên đây là một vài ghi nhận của người già tặng bạn. Rất mong giúp bạn hình dung được phần nào, sinh hoạt Xứ Đạo ngày xưa. Thân mến.

 

THANK you, America, for rescuing us from hell, Humble humans deprived of all rights to lifẹ In our old country our enemies cruelly quell Laborers, intellects, revolutionaries, monks alikẹ Thank you, America, for teaching us systematism Thereupon military is only a part of attribution. In our late republic existed militarism Causing dictatorship to erode the constitution. Thank you, America, for the example to settle The separation between politics and religion. In our poor nation the priests did meddle In worldly powers, and it was mutual demolition. Thank you, America, for granting us medium To develop our bodies and expand our minds. In our left-behind state there is no freedom To work and enjoy, think and express any kinds. Thank you, America, for nursing us deep hope For a near future we can True Virtue attain So that our Motherland emerge on the globe, Our People, with your help, Man's Value regain. THANH-THANH Bản Việt-ngữ CẢM-TẠ HOA-KỲ Xin cảm-tạ Hoa Kỳ đã cứu chúng tôi Thoát quỷ dữ cướp Quyền Người, Quyền Sống. Trên quê cũ, chúng trù nòi, dập giống, Dù trí-thức, bình dân, cách-mạng, tu-hành. Xin cảm-tạ Hoa Kỳ về bài học phân ranh Giữa quân-lực với quyền-hành chính-trị. Nước cũ chúng tôi nằm trong tay vũ-bị, Dị-ứng độc-tài nên cơ-cấu khuynh-vong. Xin cảm-tạ Hoa Kỳ về gương sáng nêu chung, Phân-lập rõ giữa giáo-quyền, chính-sự. Dân cũ chúng tôi bị khuôn rào trí-lự: Giáo-sĩ độc-tôn nên sự-nghiệp suy đồi . Xin cảm-tạ Hoa Kỳ đã hiến sẵn sinh-môi Cho thể-xác lẫn tinh-thần phát-triển. Dân nước chúng tôi mất Tự Do thể-hiện Quyền làm ăn, suy nghĩ, phát biểu, an sinh. Xin cảm-tạ Hoa Kỳ đã nuôi dưỡng Niềm Tin Về một Tương Lai phục-hồi chân giá-trị Cho Quê Mẹ chúng tôi rỡ-ràng địa-vị Trên mặt địa-cầu, ai nấy góp công xây ...

 

Quê tôi ngày xưa, khi cần thì người dân chúng tôi thỉnh thoảng nhờ đến cảnh sát, nhưng không sợ, vì chẳng làm gì sai tráị Quê tôi bây giờ sai hay không sai, người dân vẫn phải sợ cảnh sát công an, vì họ là người có quyền lực nhất. Tất cả các loại công an đều có quyền sinh sát trong taỵ Công an là lớp người làm giàu mau, sống sang trọng nhất và sung sướng nhất trong tầng lớp nhân dân xã hội chủ nghĩạ Có rất nhiều loại công an. Tôi xin kể trước tiên là công an kinh tế. Công an kinh tế: Việc chính của các ngài công an kinh tế là đi vào chợ, vào các cửa hàng. Việc đầu tiên là hoạnh họe tra hỏi các chứng từ hàng hóa, rồi kiếm cớ lấy hàng của người tạ Dù có hóa đơn hay không có hóa đơn, cũng bị chúng tìm cách tịch thụ Chúng tịch thu từ những món hàng đắt tiền, đến mớ rau mớ cá. Những cửa hàng lớn thì chúng tịch thu (ăn cướp) hàng hóa như điện thoại di động, nồi cơm điện, máy móc, dĩa hát, máy truyền hình v..v.... Các ngài cho cớ là số hàng này nhập lậủ Người bán hàng nào biết hàng nào lậu, hàng nào không lậủ Có trời mới biết? Vì người trong thị trấn mua hàng từ các tiệm buôn ở thành phố? Khi mua hàng hóa thì phải trả tiền. Hàng hóa nhập vào trong nước, thì có nhà nước quản lý chứ, cớ sao ra đến hàng ngoài chợ bảo là hàng nhập lậủ Nhưng mọi người chỉ có miệng ăn, mà không có miệng nóị Một quốc gia không có pháp luật! Kẻ có quyền, có thế bao giờ cũng đè lên đầu đám dân đen. Mỗi lần đi kiểm tra như vậy, bọn công an thường đem theo sau là xe tải, để chở đồ ăn cướp về. Tội nghiệp nhất là những người buôn rau, buôn cá ở vỉa hè các chơ.. Công an quăng cả gánh rau, cả gánh cá của người dân lên xe chở về đồn, để chia nhau ăn. Chúng viện lý do là lấn chiếm lề đường, trở ngại lưu thông? Chẳng ai dám lên đồn mà xin lại, vì chẳng bao giờ chúng nó cho lại mà xin, đến chỉ mất công vô ích mà thôị Hàng hóa chúng cướp giật về được chia cho các quan chức trong cơ quan ăn, gọi là hàng tịch thụ Nhiều khi, trở ngại khi tịch thu, chúng nêu ra vấn đề Ềpha.t.Ể Nếu có những món hàng giá trị, chúng muốn lấy thì chúng xoay xở bắt đóng tiền phạt, mà giá tiền phạt nhiều hơn giá trị món hàng. Giá 300 ngàn thì chúng phạt 500 ngàn đồng, thế là khi bị đóng phạt thì người buôn bỏ luôn, bỏ cả vốn thả cho chúng chia nhau ăn! Thôi thì bỏ cho yên cái thân. Đêm về nghe tủi hờn giẫm nát tim gan phèo phổi của mình. Người dân trong nước xã hội chủ nghĩa là thế đấy! Mặc nhiên chúng lấy không hàng hóa của người khác, mà chúng tôi gọi bọn cướp ngàỵ Tội nghiệp nhất là những người buôn gánh bán bưng. Ngày ấy coi như nhịn đói, phải đi vay mượn ít trăm ngàn tiền vốn, mua gánh hàng khác, buôn bán lại để nuôi gia đình. Những chuyện oan ức trong nước tôi, có hàng vạn hàng ức hàng triệu chuyện như vậỵ Kêu trời, trời không thấu, kêu đất đất không nghe! Kêu cán bộ chính quyền địa phương, thì có bao giờ được giải quyết đâủ Dân thấy công an kinh tế, ngoài miệng chào hỏi nhưng trong ruột thì lo sợ vô cùng. Kế đến là công an giao thông: Công an giao thông, trang bị sắc phục màu vàng, (nhiều người đi buôn gọi thầm là chó vàng) thường đứng tụm năm tụm ba trên các ngả đường. Có súng, có mũ hẳn hoị Chúng nó thổi bất cứ loại xe nào đi trên tuyến đường ấỵ Trước tiên là xe chở khách. Khi nghe còi thổi toe một cái thì tài xế, xuống xe mang theo giấy tờ xe, bằng lái, kèm theo 50 hay 100 ngàn tùy theo số lượng khách hàng trên xẹ Thế là sau khi coi qua loa giấy tờ, chúng nó cầm được số tiền bao nhiêu, nếu ít cho xe qua bên kiểm soát, kha khá thì cho đị Nếu tài xế nào không biết luật đưa tiền, chỉ trình giấy thì xin đậu lại chờ kiểm soát. Với mọi thủ đoạn, trăm ngàn lý do để phạt: xe chở quá tải, xe không an toàn mặt này hay mặt khác, để chúng có cớ phạt. Chúng có hàng trăm ngàn lý do, trăm ngàn thủ đoạn để phạt, chỉ vì chủ tài xe không biết ỀchiỂ cho công an. Nếu đóng phạt thì chủ xe còn gì mà ăn? Mà không đóng thì không chạy được. Người lái xe khổ, người đi đường đã khổ, người đi buôn càng khổ hơn. Một việc tốt nhất là gặp công an giao thông thì đưa tiền. Đó là luật! Luật bóc lột, luật ăn cướp! Chúng nó ăn tiền trắng trợn, nên chỉ cần vào công an giao thông, ít nhất là một năm thì tên nào cũng nhà lầu ô tộ Vài năm sau tên nào cũng bụng phệ, xe hơi, như những chú ba tàu ngày xưạ Nước tôi chưa có ông công an nào nghèo cả. Tiếp đến là công an hình sự: Con ông lớn thì thường tiền dư bạc thừa, nên con cái bị xì ke ma túỵ Mười ông lớn có chín ông có con cái bị bịnh nàỵ Số khác thì ra ngoài chơi bời, đánh lộn hành hung ngay cả trường học. Ai cũng sợ cậu ấm cô chiêu, học dốt mà thầy cô cũng phải sợ, nhưng họ lại sợ công an hành sư.. Công an hành sự mà gặp mấy vụ này thì nọ Chúng nó bị bắt thì phải ra tay ngọt. Cho nên con ông lớn bị bắt, thì công an hình sự mập. Phải hối lộ cho chúng tiền triệu triệu, để chúng thả về, chứ không thì mất mặt ông bà lớn đấỵ Quê tôi, toàn con cái ông lớn bà lớn, cán bộ cấp cao mới có tiền để xì ke, vì thừa mứa của dư của để, chứ dân đen thì đói nghèo suốt đời lấy gì xì kẹ Ngoài ra, các vụ con nhà giàu có (thường là bọn móc ngoặc hoặc thân nhân cán bộ gộc) mới đủ tiền chơi những xa xí phẩm nàỵ Họ là khách hàng tốt cho bọn công an hành sư.. Tép riu là công an xã: Công an xã, công an khu vực, loại tép riu này cũng có nhiều cách làm tiền dễ dàng. Nhất là có người nước ngoài về, nếu vào thăm bạn bè hoặc thân nhân buổi chiều thì làm sao trình diện được. Thế là tối đến, chúng vào kiểm tra hộ khẩụ Dù chủ nhà bảo có báo ấp tạm trú đàng hoàng, nhưng chúng cứ hạch sách mãi, ít nhất phải kiếm đến hàng trăm đô la mới yên. Ngay vùng quanh Sài gòn đó chứ không phải vùng quê đâu! Ai Việt kiều về nước ít nhất bỏ bì cho công an xã 100 đô, có chỗ còn cho là ít không nhận, thế là các anh Việt kiều lo đưa thêm, có anh ra nước ngoài sợ mất mặt không dám nói đó thôị Không chi là bị giữ Ềbát boỂ liền. Có anh được công an mời đi, lúc đầu gia đình teo râu, nhưng thực chất là mời đi ăn và nói thật nhiều lý do, làm thế nào để anh Việt kiều phải chi số tiền từ 200 đô trở lên mới yên. Hình như ai cũng biết việc này, nhưng ai cũng giấu nhau việc này thì phảị Có phải không mấy anh chị Việt kiềủ Ngay ở Sài gòn, anh chị Việt kiều về, nếu ở khách sạn thì họ đã thu tiền khách sạn rồị Còn số khác về với gia đình, thì thân nhân đã đóng hụi chết cho họ rồi, cho nên các anh chị nào biết, cứ nghĩ là yên thân, tự dọ Mất lòng công an thì hãy liệu chừng là có truyền đơn hay súng trong ba lô, hay trong hành lý dễ dàng. Ở các nước tự do, tiên tiến. Công an hay cảnh sát là người mang lại sự bình yên, an lạc cho dân chúng, nhưng nước tôi công an là loại người đem đau khổ, tang tóc cho mọi người mọi giớị Công an như là một hung thần ám ảnh mọi người dân. Người dân cứ thế mà chịu thiệt thòi, oan ức. Những người dân lương thiện vẫn nghèo đến muôn đời, và luôn chịu mọi nỗi oan khiên. Người làm công an phải là con cháu cán bộ, lý lịch phải ba đời và cha mẹ là đảng viên đảng cộng sản thì mới được tuyển du.ng. Còn dân thường thì dù có học giỏi, có tư cách đạo đức, có khả năng thì cũng đứng xa mà nhìn. Bọn công an là thành phần ưu việt của đảng, lý lịch phải ưu việt, nên ăn cướp cũng ưu việt, cho nên càng ngày chúng càng lộng hành hơn, chúng ức hiếp người dân lành nhiều hơn. Ai không tin mời về quê tôi, lật ngửa bàn tay thì mới biết. Vài dòng kể chuyện quê tôi làm món quà quê hương thấm đượm tình thương, với rất nhiều nước mắt, như bài ca ỀQuê tôi là chùm khế ngọt".Thật ra khế không ngọt như bài ca, nhưng nó chua như khế thật đấỵ Nước Việt mến yêu là cái tên, là lá bùa hộ mạng để cán bộ công an làm giàu và dân nghèo thì phải khổ suốt đờị Nhân dân có đói nghèo thì công an cán bộ mới sung sướng được chứ?

 

Xin kính tặng hàng triệu Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa vô danh & Chiến Sĩ Quân Đội Nhân Dân Việt Nam khuyết danh đã nằm xuống vì Lý tưởng Tự Do & Độc Lập trong bối cảnh Lịch sử Chiến tranh Lạnh vô cùng oan nghiệt và nghịch ngã như sóng thần bất công trút đổ trên đầu Dân Tộc.... Cướp đi hàng triệu Mẹ Tử Sĩ & Liệt Sĩ trên khắp hai miền Nam-Bắc hàng triệu phần tâm linh xương thịt máu mủ thân yêu nhất ...... Old Soldiers never die They just fade away Người lính già không bao giờ chết Vì Sao chỉ nhạt mờ dần đi ... Đại tướng Douglas Mac Arthur Người lính già lưu vong Kể mãi chuyện quốc phòng Một thời trai chinh chiến Nợ nước chưa đền xong * * * Người lính già dân chủ Tuổi này vẫn ngục tù Cả một đời lý tưởng Hải đăng sáng dạ thù * * * Người lính già đấu tranh Tránh đâu còng sắt lạnh Đau sót hơn cừu thù Tình đồng đội canh cánh * * * Người lính già nghêu ngao Xin hãy vui lên nào Chuỗi ngày dài thất chí Rượu tìm quên hư hao * * * Người lính già trăn trở Khói lam chiều quê xưa Nẽo đường chiến binh khổ Bao đồng ngũ pôn xô * * * Người lính già thương binh Mãnh bom đạn đầy mình Vết hằn chiến tranh lạnh Ý thức hệ yêu tinh * * * Người lính già thân yêu Mọi miền quê yêu kiều Mọi miền trên Trái đất Bao dung lòng Mẹ chiều ... * * * Người lính già thân thương Quá Khứ ôi đoạn trường Hiện Tại đầy trăn trở Tương Lai mở muôn đường * * * Người lính già dũng cảm Yêu quê hương dám làm Chiến đấu vì Tự Do ... Độc Lập đuổi bạo tàn Hai nghĩa vụ đồng thời Không may cùng sứ mệnh Chạm đầu nhau ý chênh Tương tàn tình huynh đệ Nỗi buồn lớn lênh đênh ! * * * Nay quên niềm đau chung Xiết chặt tay xây cùng Pháp Nhân quyền Dân chủ Vững bền nước mạnh hùng * * * Người lính già kiên trung Đường Việt Nam phải tới Nhập dòng thời đại cùng Loài người ta bước chung Kỷ niệm 28 năm 30/04