Tham Khảo

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Đoạn Phúc Âm Lễ Chúa Thăng Thiên hôm nay kết thúc cuộc sống trần gian của Chúa Giêsu. Người được tiếp rước lên trời trước mặt các môn đệ hoan hỷ chứng kiến vinh quang của Người: - " Nói xong Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa" ( Mc 16, 19). Còn các môn đệ sau khi chứng kiến Chúa Giêsu vinh hiển trở về trời, ngự bên hữu Chúa Cha, liền hăng say đi khắp nơi rao giảng Phúc Âm cho muôn dân: - " Còn các tông đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng " ( Mc 16, 20). Có lẽ để tránh cho bài đọc quá dài, nên Thánh Bộ Phụng Tự không lấy thêm hai câu trước, câu 14-15, cho đoạn Phúc Âm hôm nay. Nhưng bỏ hai câu vừa kể, đoạn Phúc Âm chúng ta đọc mất đi ý nghĩa hoàn cảnh và tâm trạng thực tế của những lần Chúa Giêsu hiện ra sau Phục Sinh và ý nghĩa của bối cảnh Chúa Giêsu giao cho các môn đệ sứ mạng tông đồ, khi Người từ giả các ông về trời. Câu 14 Phúc Âm Thánh Marco ( Mc 16, 14) thuật lại việc Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ trong lúc các ông đang dùng bữa, buồn bã, chán nản và nghi nan sau cái chết của Chúa Giêsu, mặc dầu Chúa Giêsu đã hiện ra hai lần trước, một cho bà Maria Magdala ( Mc 16, 9-11) và một lần cho hai môn đệ trên đường đi đến Emmaus ( Mc 16, 12-13). Nhưng kết quả của hai lần hiện ra đều được Phúc Âm Thánh Marco lập lại như một điệp khúc vô vọng, chán nản: - " Nghe bà nói Người đang sống và bà đã thấy Người, các ông vẫn không tin" ( Mc 16, 11). - " Họ trở về báo tin cho các ông khác, nhưng các ông ấy cũng không tin hai người nầy" ( Mc 16, 13). Trước tình trạng buồn bã, chán nản và nghi nan đó của các ông, Chúa Giêsu hiện đến trách móc và nâng đỡ các ông: - " Sau cùng Nguời tỏ mình ra cho Nhóm Mười Một Người đang khi các ông dùng bữa. Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không tin những kẻ đã được thấy Người, sau khi Người trỗi dậy. Người nói với các ông: anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo" ( Mc 16, 14-15). Đọc hai câu Phúc Âm vừa kể, chúng ta thấy Chúa Giêsu có hành động nghịch thường là thay vì khiển trách các môn đệ rồi bỏ đi, vì lòng nghi nan của các ông, Người khiển trách lòng kém tin của các ông, sau đó lại giao cho các ông sứ mạng đi rao giảng Tin Mừng cho "khắp tứ phương thiên hạ". Qua những gì Phúc Âm thuật lại trong bài đọc Thánh Lễ Chúa Thăng Thiên hôm nay, chúng ta thử suy nghĩ về sứ mạng tông đồ của Giáo Hội và những vấn đề phải đối phó. Trước hết Chúa Giêsu khiển trách các môn đệ nghi nan về việc Người đã sống lại. Có lẽ khi "khiển trách các ông không tin và cứng lòng", Chúa Giêsu không những trách móc các ông kém lòng tin về việc Người sống lại, mà còn khiển trách các ông còn nô lệ vào quá khứ, còn sống đóng kín trong kỷ niệm của thời đã qua, không bao giờ tái diễn nữa. Các ông không biết hay quên đi Nhóm Mười Một Người mà các ông đang sống ngày hôm đó và các cộng đồng tín hữu, con cái của các vị trong đức tin sau nầy, không còn phải là những cộng đồng kỷ niệm của ông Giêsu Nazareth đã chết, mà là cộng đồng của Chúa Giêsu đang sống, hoạt động và thông ban ân sủng: - " Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế " ( Mt 28, 20). Xác tín vừa kể được Thánh Marco giải thích rỏ hơn: - " Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng" ( Mc 16, 20). Qua những lời vừa kể, chúng ta tự hỏi lương tâm chúng ta, con cái của các Tông Đồ trong đức tin, chúng ta đang sống với tâm trạng nào trong lòng Giáo Hội, Cộng Đồng do các Tông Đồ thiết lập trong sứ mạng " ra đi rao giảng khắp nơi " của các Ngài? Cộng Đồng Giáo Hội của chúng ta là Cộng Đồng của ông Giêsu Nazareth đã chết, là Cộng Đồng của kỷ niệm dĩ vãng, dẫu cho là những dĩ vãng vàng son, hay là Cộng Đồng của Chúa Giêsu đang hiện diện, đang sống và " hoạt động với các ông " và thông ban ân sủng tràn đầy cho mọi thành viên trong Cộng Đồng? Và từ đó thái độ chúng ta phải có, không phải thái độ buồn nản, thất vọng, bị " Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng", mà là thái độ tích cực, nhiệt tâm, hăng say thực hiện sứ mạng Chúa Cha ủy thác ( apostello), như người được tin cẩn, đáp ứng lại như một tông đồ ( apostolus) cùng hoạt động với Chúa Giêsu và theo ý muốn của Người: - " Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rủa cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em" (Mt 28, 20). Trở lại tâm trạng buồn nản và không tin của các môn đệ, chúng ta đã có dịp nhắc đến ở trên , khiến Chúa Giêsu phải khiển trách các ông ( Mc 16, 14-15). Tuy vậy, thay vì bỏ đi Người lại giao sứ mạng truyền giáo cho các ông: - " Người nói với các ông: Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo tin mừng cho mọi thọ tạo" ( Mc 16, 15). Đó cũng là những gì thực tế đã và đang xãy ra trong lòng Giáo Hội. Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta năng động trên cánh đồng truyền giáo của Người, không phải vì chúng ta thông thái tuyệt đỉnh, có đức tin trong sáng vững chắc như bàn thạch. Bốn môn đệ tiên khởi của Chúa Giêsu, ông Simon Phêrô, Andrea, Giacobe và Gioan là những người sống nghề chài lưới ( Mt 5, 18-22). Ông Matthêu là người làm nghề siết thuế, kẻ bị xã hội khinh bỉ ngang hàng với những người tội lỗi ( Mt 9, 9-13): - " Sao Thầy các anh lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi như vậy ?" ( Mt 9, 11). Ông Simon Phêrô, vị thủ lãnh của Giáo Hội cũng đã chối Chúa Giêsu ba lần, lúc Người lâm nạn ( Mt 26, 69-75). Và Giuda Iscariote bán Chúa Giêsu với ba mươi đồng tiền ( Mt 26, 47-50). Nói tóm lại, nếu trong hàng ngũ các môn đệ Chúa Giêsu có những người tài trí làm bác sĩ, luật sư như Thánh Marco, Thánh Luca, thì cũng có những người ít học, lòng tin không phải lúc nào cũng vững chắc, không giao động. Đó chính là điều Thánh Marco thuật lại cho chúng ta suốt đoạn Phúc Âm ( Mc 16, 9-16) và Chúa Giêsu đã phản ứng trước thực trạng: - " Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng…" ( Mc 16, 14). Nhưng khiển trách vì đáng khiển trách, Chúa Giêsu sau đó cũng giao cho những con người bất toàn, mềm yếu, cần được nâng đỡ, sứ mạng loan báo ơn cứu rỗi cho anh em: - " Anh em hãy đi khắp thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo" ( Mc 16, 15). Trong đoạn Phúc Âm hôm nay, Thánh Marco chỉ nói Chúa Giêsu nâng đỡ các Tông Đồ bất toàn của mình bằng cách ban cho các ông được quyền làm các dấu lạ, để xác nhận quyền lực thần linh lời nói của các vị rao giảng: - " dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng" ( Mc 16, 20). Đó là dấu các ông có quyền trừ qủy, nói được nhiều tiếng mới lạ, không phải sợ nộc độc rắn rết và chữa khỏi bệnh tật: - " Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy họ sẽ trừ được qủy, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người nầy sẽ được mạnh khoẻ" ( Mc 16, 17-18). Chúa Giêsu cũng nâng đỡ các môn đệ bằng cách hiện diện giữa các ông và hoạt động với các ông: - " Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế " ( Mt 28, 20). - " Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông" ( Mc 16, 20). Và chắc chắn chúng ta phải đọc trong câu " có Chúa cùng hoạt động với các ông" của Phúc Âm Thánh Marco sự hiện diện, bảo trợ, an ủi, trí khôn sáng suốt và thêm nghị lực của Chúa Thánh Linh đem đến cho các Môn Đệ, được nói đến trong những Phúc Âm khác: - " Song Thầy nói thật với anh em: Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng An Ủi sẽ không đến với anh em. Nhưng nếu Thầy ra đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em. Khi Người đến, Người sẽ chứng minh cho rằng thế gian sai lầm vì tội lỗi, về sự công chính và việc xét xử" ( Jn 16, 7). - " Người thổi hơi vào các ông và bảo: anh em hãy nhận lấy Thánh Thần" ( Jn 20, 19). - " Khi người ta điệu anh em đi nộp, thì anh em đừng lo trước phải nói gì, nhưng trong giờ đó, Thiên Chúa cho anh em biết điều gì, thì hãy nói điều đó: thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Chúa Thánh Thần nói" ( Mc 13, 11). - " Nhưng Đấng An Ủi là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em" ( Jn 14, 26). Qua những gì đọc được trong Phúc Âm vừa kể, chúng ta thấy rằng trong Giáo Hội Chúa gọi những người thông thái, có đức tin vững chắc, cũng như những người có tầm hiểu biết ít oi hơn, yếu kém hơn, kém lòng tin hơn, dễ sa ngã hơn. Nhưng đối với những ai được Chúa gọi, giáo sĩ cũng như giáo dân, tất cả chúng ta đều " có Chúa hoạt động với các ông", có Chúa Thánh Linh là Đấng An Ủi, Bảo Trợ, Sức Mạnh và Trí Khôn Ngoan được Chúa Cha sai đến cho mỗi người chúng ta, mỗi người tùy hoàn cảnh và chức vụ của mình, để hoàn thành sứ mạng " ra đi rao giảng khắp nơi " của các Tông Đồ. Những khó khăn, trở lực, đàn áp, bắt bớ, tù đày, tra tấn và giết chết đã được Chúa Giêsu tiên đoán trước: - " Khi người ta điệu an em đi nộp, thì anh em đừng lo trước phải nói gì, nhưng trong giờ đó, Thiên Chúa cho anh em biết điều gì, thì hãy nói điều đó…, không phải chính anh em nói, mà Chúa Thánh Thần nói ". Điều quan trọng là chúng ta tin chắc ở những điểm mấu chốt: không đặt tin tưởng vào khả năng của mình để giải quyết mọi vấn đề, hoàn toàn vào khả năng tự vệ và chỉ vào sức mạnh của chính mình, mà nhận biết rằng chúng ta đang tiếp tục sứ mạng của các Tông Đồ, chúng ta " có Chúa hoạt động với các ông" và chúng ta có Chúa Thánh Thần ở cùng chúng ta. Ý thức được rằng trong Giáo Hội cũng có những người bị " Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng", chúng ta nhớ cầu nguyện cho anh em chúng ta, người anh em đó là chủ chăn hay là một giáo dân thường cũng vậy, để anh em có đủ ân sủng chu toàn địa vị và sứ mạng của mình. Nói tóm lại Giáo Hội là một Cộng Đồng có Chúa Giêsu là Mục Tử Nhân Lành đang sống động dẫn dắt. Thành phần trong Giáo Hội luôn chịu nhiều thử thách, yếu đuối, nhưng chúng ta "có Chúa hoạt động với các ông" và có Chúa Thánh Linh an Ủi, Bảo Trợ, thêm sức mạnh và soi sáng. Biết được anh em yếu đuối, thay vì chỉ trích, phán đoán gay gắt, chê trách, chúng biết cầu nguyện cho anh em, yêu thương anh em như Chúa Giêsu đã dạy chúng ta: - " Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em " ( Jn 15, 12).

 

" Làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô " hay " làm chính trị " xứng đáng với danh nghĩa người tín hữu Chúa Ki Tô, không có nghĩa là một nhản hiệu, cứ " liếm cò", " dán tem " gắn vào đảng phái, hệ thống chính trị nào là có được đảng phái " làm chính trị " xứng đáng với danh nghĩa và đặc tính phải có " như người tín hữu Chúa Ki Tô ". Theo tinh thần của Phúc Âm, làm chính trị là một cách tác động nghiêm chỉnh và là một lối sống và hành động chọn lựa cần nhiều đòi hỏi. Dĩ nhiên nói như vậy không có nghĩa là tuyên bố " chính trị Ki Tô giáo ". Phúc Âm không đưa ra các toa thuốc " cao đơn hoàn tán" cho chính trị, kinh tế và tổ chức xã hội. Chính trị, cũng như các thực tại trần thế khác, có mục đích, nội dung và phương thế không tùy thuộc vào mạc khải, nhưng tùy thuộc vào bản chất tự nhiên của thế giới được Chúa dựng nên. Do đó " làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô " không phải là làm cho xã hội trở nên thánh thiện hơn hay bảo vệ lợi lộc của Giáo Hội, bảo vệ quyền ưu tiên thượng đẳng của hàng giáo phẩm. Người tín hữu Chúa Ki Tô cũng như bất cứ người công dân nào khác trong cộng đồng quốc gia, dấn thân vào chính trị là chuyên tâm để tạo được lợi ích chung cho mọi công dân trong cộng đồng, hay nói như Công Đồng Vatican II, là để tạo nên - " những điều kiện sống xã hội cho phép các tổ chức xã hội trung gian cũng như cho mỗi thành phần trong cộng đồng đạt được hoàn hảo con người của mình một cách đầy đủ và mau lẹ hơn" ( Gaudium et Spes, GS, n. 26). Tư tưởng vừa kể, chúng ta cũng gặp được trong Hiến Pháp 1947 Ý Quốc: - " Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện chính trị, kinh tế và xã hội, là những chướng ngại trong khi thật sự giới hạn tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép họ triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở" ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Nền mạc khải của Ki Tô giáo là mạc khải có tính cách siêu nhiên, nhưng ngoài ra việc mạc khải cho con người những mầu nhiệm của Thiên Chúa về tình thương và ơn cứu độ của Người, Phúc Âm cũng - " ...mạc khải hoàn hảo chính con người cho con người " ( Gaudium et Spes, GS, n.22). Như vậy, " làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô " là biết rút ra từ Phúc Âm những hiểu biết, lý tưởng, ước vọng, các giá trị và nghị lực để chăm lo vào lợi ích chung, mà người tín hữu Chúa Ki Tô góp phần cộng tác với những người thành tâm thiện chí khác để đạt được. Từ đó chúng ta thấy được rằng " làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô ", người tín hữu phải biết đo lường hành động của mình với một vài tiêu chuẩn căn bản, mà gần đây Giáo Hội thường xuyên nhắc đến trong các Huấn Dụ Xã Hội của mình: - trung thành với các giá trị, - trung thành chủ quan và khách quan, - làm chính trị theo phương thức dân chủ, - đặc tính trần thế của chính trị, - tự lập trong các lựa chọn chính trị, - đạo đức và thẩm quyền chuyên môn trong chính tri. Đó là những đặc tính mà người làm chính trị phải có, nếu muốn được xem là " làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô". 1 - Trung thành với các giá trị. Tiêu chẩn trước hết để người phục vụ chính trị, sống theo tinh thần Ki Tô giáo, không có tiêu chuẩn nào khác hơn là trung thành với các giá trị của Phúc Âm. Thiên Chúa Nhập Thể, hội nhập vào lịch sử con người, " một cách nào đó đã trở thành hiệp nhứt với con người " ( GS, n. 22). Chúa Giêsu Nhập Thể, như là một con người, đến để sống, hiểu biết, chia xẻ và làm vơi đi những âu lo, bất hạnh của con người và chỉ cho họ con đường phải đi theo đề tìm về nguồn mạch hạnh phúc viên mãn và đích thực. Hiểu như vậy, chúng ta hiểu được tại sao Phúc Âm chứa đựng lời đáp ứng lại liên quan đến các câu hỏi căn bản của con người, tín hữu hay không tín hữu cũng vậy, cả những câu trả lời căn bản liên quan đến tương lai của lịch sử. Báo cho biết trước kết quả cuối cùng của lịch sử con người, cá nhân hay cộng đồng xã hội cũng vậy, Phúc Âm mạc khải ý nghĩa đích thực cho việc con người dấn thân tác động trong thế giới hiện tại. Người tín hữu Chúa Ki Tô biết được rằng - " Thiên Chúa chuẩn bị một nơi cư ngụ mới và một thế giới mới, nơi đó sẽ là nơi ngự trị của nền công chính", từ đó người tín hữu được mời gọi ngay từ bây giờ hãy chuẩn bị trước các lợi thú thiết thực " ( GS, n. 39). Nói cách khác, Phúc Âm mạc khải Chúa Giêsu là Con Người hoàn hảo, là Đấng sẽ thu tóm về mình mọi thực tại, đồng thời cũng là Đấng mạc khải những giá trị thực sự nhân bản đích thực là những giá trị nào, có khả năng làm nền tảng cho một xã hội công chính và thân hữu mà con người mong đợi. Hay nói như Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức: - " Phẩm giá con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo đảm nhâm phẩn đó ( Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD). Như vậy dân tộc Đức nhìn nhận các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người, như là nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hòa bình và công chính trên thế giới" ( Điều 1, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Công Đồng Vatican II giải thích rõ hơn: - " Chúa Giêsu là cùng đích của lịch sử con người, là tiêu cự điểm của các ước muốn lịch sử và văn minh con người, trung tâm điểm của nhân loại, niềm lạc quan của con tim, nỗi thoả mãn đầy tràn của mọi ước vọng " ( GS, n. 45). Và Công Đồng Vatican II kết luận: sứ điệp Phúc Âm liên quan đến con người và xã hội không những chỉ có giá trị đối với các tín hữu Chúa Ki Tô, mà đối với mọi người, trong tâm hồn họ đều được ân sủng Thiên Chúa tác động. Bởi vì Chúa Giêsu chết cho tất cả mọi người và ơn gọi của nhân loại chỉ là một, đó là ơn gọi tất cả đều hướng về Chúa là cùng đích. Bởi đó chúng ta phải nhìn nhận rằng - " Chúa Thánh Thần đổ ơn của Người xuống mọi người, cách nào đó theo ý Chúa muốn, để tất cả đều thông hiệp vào mầu nhiệm Phục Sinh" ( GS, n. 22). Đức Hồng Y Carlo Maria Martini, Nguyên Tổng Giám Mục Milano cho biết là một trong những giá trị khẩn thiết và quan trọng nhứt của việc người công giáo dấn thân vào chính trị là hoán chuyển ( hay trung gian điều giải, mediazione) các chân lý của đức tin thành giá trị cho con người và xã hội, như vậy các giá trị đó - " trở nên định hướng để sống được và ngưỡng mộ được đối với mọi người, tạo được sự đồng thuận và chấp nhận rộng lớn hết sức có thể " ( Card. C.M. Martini, C'è un tempo per tacere e un tempo per parlare", in Aggiornamenti Sociali , 2/1996, 174). Và Tổng Lược Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội, n. 565 ( Compendio Dottrinale Sociale della Chiesa): - " Định hướng hoạt động chính trị của người tín hữu Chúa Ki Tô". Đối với người tín hữu giáo dân dấn thân chính trị là một phương cách xác nhận đặc tính và việc dấn thân cần thiết phải có của người Ki Tô hữu phục vụ người khác. - đạt được công ích trong tinh thần phục vụ - phát triển công lý cùng với lòng chú tâm đặc biết đến các hoàn cảnh khó nghèo và đau khỗ; - tôn trọng lãnh vực tự lập của các thực tại trần thế; - nguyên tắc phụ túc bảo trợ; phát huy đối thoại và hoà bình trên nền trời liên đới. Đó là những định hướng mà người tín hữu Chúa Ki Tô cần đặc tâm quy hướng các tác động chính trị của mình. Mọi người tín hữu, chủ nhân của quyền và bổn phận người công dân, đều phải tôn trọng các định hướng vừa kể. Nhứt là những ai có bổn phận lãnh đạo và và quản trị các vấn đề phức tạp của lãnh vực chính trị, trung ương cũng như địa phương, quốc gia cũng như quốc tế càng phải đặc tâm hơn nữa. Tiêu chuẩn tiên khởi để có được một sự hiện diện trong chính trị " như người tín hữu Chúa Ki Tô " , không có tiêu chuẩn nào khác hơn là trung thành với các giá trị Phúc Âm. Trung thành không có nghĩa chỉ là trung thành trên lý thuyết, mà là đem các giá trị Phúc Âm ra sống trong đời sống cá nhân của mình, nhân chứng và trung gian điều giải, áp dụng vào cuộc sống công cộng. Các giá trị nhân bản cao cả của luân lý thoát xuất từ đức tin Ki Tô giáo - phải được sống không những trong lương tâm mình và trong các thái độ hành xử cá nhân, mà còn phải được thể hiện ra trong văn hoá và, qua việc tự do tác động gây nên được sự đồng thuận, cũng sẽ được diễn tả ra bằng cấu trúc xã hội, luật pháp và cơ chế quốc gia. Kế đến tài liệu Hội Đồng Giám Mục Ý liệt kê những giá trị quan trọng: - địa vị tối thượng và trung tâm điểm của con người, - tính cách thiên thánh và bất khả xâm phạm đời sống con người trong mọi thời điểm của cuộc sống, - hình ảnh và sự cộng tác của người phụ nữ trong việc thăng tiến xã hội, - vai trò và tính cách bền bĩ của gia đình được đặt trên nền tảng hôn nhân, - tự do và các quyền bất khả xâm phạm của con người và của các dân tộc, - liên đới hỗ tương và công bình xã hội trên bình diện thế giới ( CEI, Evangelizzazione e Testimonianza della carità, 08.12.1990, n. 41, in ECEI IV/2768). Thánh Bộ Tín Lý nhấn mạnh đến việc người tín hữu Chúa Ki Tô dấn thân trong lãnh vực chính trị phải luôn luôn là động tác dấn thân được đặt trên quan niệm chính đáng về con người: - " Trên nguyên tắc nầy, việc dấn thân vào chính trị của người tín hữu Chúa Ki Tô không thể có một bất cứ một sự nhượng bộ nào, nếu không họ không thể làm tròn bổn phận nhân chứng đức tin Ki Tô giáo giữa trần thế, sự hiệp nhứt và trung thành nội tâm của chính những người tín hữu ( ...). Ngoài ra chính sự kính trọng nhân phẩm con người làm cho mọi người có thể tham dự vào thể chế dân chủ " ( Congregazione per la Dottrina della Fede. Nota dottrinale circa alcune questioni riguardanti l'impegno e il comportamento dei cattolìci nella vita politica, n. 3, in Il Regno - documenti 48 ( 3/2003), 72) . 2 - Trung thành chủ quan và trung thành khách quan. Đức Giáo Hoàng Gioan Pholồ II đã xác định rõ rệt vấn đề " trung thành" của người tín hữu Chúa Ki Tô trong chính trị. Dĩ nhiên trong chính trị các người tín hữu Chúa Ki Tô có những lối nhìn đa diện khác nhau, bởi đó Ngài xác nhận: - " Giáo Hội không nên và cũng không có ý liên hệ vào bất cứ một đường lối chính trị hay đảng phái nào, cũng như không tỏ mình đứng về phía nầy hay phía kia của giải pháp, cơ chế hay hiến định nào cả, nếu các giải pháp đó đều là những giải pháp tôn trọng thực sự thể chế dân chủ " ( Giovanni Paolo II, Discorso al congresso nazionale della Chiesa italiana, Palermo 23.11.1995, in L ' Osservatore Romano, 24.11.1995). a) Đối với vấn đề " trung thành về phía chủ quan ", mặc cho tính cách chính đáng các tác động đa diện trong chính trị của người tín hữu Chúa Ki Tô, Đức Thánh Cha cũng không quên: - " ...dù vậy, không ai có thể cho phép người tín hữu Chúa Ki Tô vắng mặt trong các lãnh vực văn hóa" ( id., n. 10). Trung thành với đức tin và với lời huấn dạy của Giáo Hội tự nhiên sẽ hướng dẫn người tín hữu Chúa Ki Tô hợp nhứt trong nhãn quang về các giá trị nhân bản được soi sáng bằng ánh sáng Phúc Âm. Bất cứ phải hành xử phận vụ của mình ở nơi đâu, các người tín hữu Chúa Ki tô cũng có khuynh hướng và tự bản năng mình, quy tựu nhau để bênh vực các giá trị luân lý nền tảng của Ki Tô giáo. Bản năng Ki Tô hữu tự nhiên hướng dẫn họ không thể không trung thành chủ quan, theo xác tín luân lý của mình, nếu không cảm nhận mình bị lương tâm trách móc. Nhưng " trung thành theo phương diện chủ quan" như vừa kể không nên lầm lẫn với thái độ đứng ra tuyên bố các giá trị nền tảng, được diễn dịch trực tiếp từ các nguyên lý của đức tin: đời sống, gia đình, hôn nhân... Dĩ nhiên tuyên bố theo nguyên tắc các giá trị vừa kể đã là " trung thành ", nhưng thái độ " trung thành theo phương diện chủ quan" của người tín hữu Chúa Ki Tô không hệ tại ở chỗ tuyên bố để mà tuyên bố, mà còn phải - " tìm ra những dụng cụ để biến các giá trị của nguyên tắc thành thực dụng, ai cũng có thể tham dự được" ( Card. Carlo Maria Martini, " C'è un tempo per tacere e un tempo per parlare, op. cit., p. 74). b) Nhưng lắm khi " trung thành theo phương diện chủ quan" thôi, chưa đủ. Bởi đó Đức Thánh Cha Gioan Pholồ II còn thêm một phương cách trung thành khác, " trung thành khách quan ", cần phải có để hướng dẫn người tín hữu Chúa Ki Tô trong các quyết định lựa chọn của mình. " Trung thành khách quan ": trung thành với xác tín lương tâm không miễn chuẩn cho người tín hữu Chúa Ki Tô khỏi phải giám định yếu tố khách quan nào hợp hay không hợp với những giá trị được đức tin dạy bảo chúng ta, có thể ứng dụng vào thực tế để hành xử. Và đó là những gì Đức Thánh Cha giải thích rõ hơn: - " Người tín hữu Chúa Ki Tô không thể cho rằng mọi quan niệm, mọi nhãn quang về cuộc sống trần thế đều có thể phù hợp với đức tin, cũng không thể tham gia một cách dễ dàng vào bất cứ lực lượng chính trị hay xã hội nào đi ngược lại hay không đặt trọng tâm đủ đến các nguyên tắc huấn dụ xã hội của Giáo Hội" ( Giovanni Paolo II, Discorso al Convegno nazionale della Chiesa italiana, Palermo 23.11.1995, cit., 10). Giáo Hội không thể và cũng không được tham gia vào khuynh hướng chính trị nầy hay khuynh hướng chính trị khác. Nhưng điều đó không có nghĩa là Giáo Hội không được có tiếng nói. Giáo Hội không thể lẫn trốn, thoái thoát trách vụ của mình đưa ra những định chuẩn luân lý chính trị, khuôn mẫu hay chương trình chính trị nầy hay chương trình chính rị khác, chỉ vì sợ rằng mình bị kết án là thiên vị: - " Bây giờ không còn phải là thời điểm dững dưng, im lặng, và trung lập đứng tách rời và đứng giữa khoảng cách đều nhau. Nói rằng mình không đứng về phía bên nầy hay phía bên kia cũng chưa đủ, để có thể tự mãn. Không chính đáng cho rằng mình có thể lựa chọn, vào thời điểm thích hợp, nhóm nầy hay nhóm khác cũng được, tùy theo nhóm nào đem lại lợi lộc nhiều hơn. Đúng hơn đây là thời điểm cần giúp đỡ để phân định phẩm chất luân lý không những hàm chứa trong các việc chọn lựa chính trị cá biệt, mà còn ngay cả đối với đường lối chung để hành xử chính trị và trong quan niệm hành xử chính trị hàm chứa trong các ý thức hệ đó. Không phải chỉ liên hệ đến tự do của cá nhân, không phải chỉ liên hệ đến tương lai của Giáo Hội, mà liên hệ đến tương lai của dân chủ " ( Card. C. M. Martini, " C'e un tempo per tacere e un tempo per parlare", cit, 171). 3 - Làm chính tri theo phương thức dân chủ. Quả quyết bằng miệng mình trung thành với các giá trị và nội dung Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội không có giá trị bao nhiêu, nếu phương thức làm chính trị không phải là phương thức dân chủ thực sự. Làm sao có thể bảo đảm được những giá trị và nội dung đó, nếu phương thức hành xử chính trị đáng trách cứ về phương dịện luân lý và không có gì là bảo đảm về phương diện dân chủ? Mussolini cũng không hành xử gì khác hơn khi tuyên bố rằng - giá trị của hôn nhân bất khả phân ly, - bảo đảm tự do dạy giáo lý nơi học đường, - phụ huynh có quyền tự do chọn trường học cho con cái, - Giáo Hội Ý Quốc và Toà Thánh có quyền tự do trong lãnh vực của mình, nhưng bao nhiêu chính trị gia lỗi lạc công giáo lúc đó đều xa lánh Mussolini, không phải vì không chấp nhận những " giá trị " mà Mussolini vừa hứa, cho bằng lối làm chính trị đảng Phát Xít của Mussolini là lối hành xử chính tri phi nhân, vô luân lý và chống dân chủ, không thể chấp nhận được. Chính Đức Giáo Hoàng Pio XI, chỉ sau hai năm ký thoả ước với Mussolini, đã phải ra Thông Điệp " Non abbiamo bisogno 1931" ( Chúng tôi không cần) để bênh vực "các giá trị được thỏa ước công nhận ", nhưng bị cách làm chính trị của Phát Xít chà đạp. Kể lại kinh nghiệm vừa kể của Toà Thánh đối với " cách làm chính trị Phát Xít " của Mussolini để gợi lại cho người tín hữu Chúa Ki Tô dấn thân trong chính trị nhớ phải " làm chính trị theo phương thức dân chủ ". Giáo Hội phải luôn luôn nói lên tiếng nói rõ ràng và khẳng định phương thức làm chính tri phải có là " phương thức dân chủ ", như là trách nhiệm trọng đại của Giáo Hội. Giáo Hội không thể làm thinh, đối với bất cứ ai. Ai không " làm chính trị theo phương thức dân chủ ", Giáo Hội vẫn phải lên tiếng, dẫu cho tiếng nói của Giáo Hội có làm cho mình bị phán đoán cho là thiên vị. - " Làm chính trị không theo phương thức dân chủ " là chính trị vi phạm các quyền căn bản tối thiểu bất khả xâm phạm của con người, ngược lại tín lý Ki Tô giáo ( Trích Tổng Lược Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội, n. 573). Theo đảng phái chính trị nào? Một lãnh vực cá biệt để người tín hữu giáo dân chuẩn định các dụng cụ chính trị, đó là gia nhập một chính đảng hay các ý thức hệ trong việc tham gia chính trị. Cần phải có những quyết định lựa chọn hợp với các giá trị, đặc tâm lưu ý đến các hoàn cảnh thiết thực. Trong mọi trường hợp, bất cứ một sự lựa chọn nào cũng phải là lựa chọn được phát xuất từ đức bác ái và lựa chọn để mưu cầu lợi ích chung. Các đòi hỏi của đức tin Ki Tô giáo khó mà có thể tìm được quy tựu tất cả vào một giải pháp chính trị duy nhứt: cho rằng một chính đảng hay một ý thức hệ chính trị đáp ứng hoàn toàn các đòi hỏi của đức tin và đời sống Ki Tô giáo là lối suy luận nguy hiểm. Người tín hữu Chúa Ki Tô không thể tìm được một chính đảng nào đó hoàn toàn đáp ứng được các đòi hỏi luân lý phát xuất từ đức tin và từ việc mình thuộc thành phần Giáo Hội: gia nhập vào một chính đảng hay một ý thức hệ không thể là gia nhập vào một lý tưởng hoàn hảo, mà là gia nhập vào chính đảng và vào chương trình của chính đảng để chính đảng cũng như chương trình được kích thích chú tâm thực hiện, đạt được lợi ích chung và cùng đích của con người, kể cả cùng đích thiêng liêng. Người tín hữu Chúa Ki Tô trong chính trị phải biết rằng đất nước được ổn định chỉ có thể đạt được như là hậu quả của mức quân bình giữa những cuộc bàn thảo chính trị và các quyết định được suy diễn ra. Cách làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô là - không thể làm chính trị mà không đặc cơ chế Quốc Gia ở vị trí với bổn phận bảo vệ người yếu thế, - không thể làm chính trị với mục đích chỉ nhằm lợi nhuận, hiệu năng và tranh đua như là cùng đích của phe nhóm và tình liên đới hổ tương trong Quốc Gia chỉ là thứ yếu, - không thể làm chính trị vì phải giao chức vụ cho người lãnh đạo tạo được nhiều thành quả tiếng tăm, cho bằng dựa trên các chương trình hiệu năng và hữu lý, - không thể làm chính trị dựa trên tư tưởng " cá lớn, nuốt cá bé " ( first past the post) và thành phần thiểu số chỉ là kẻ bại trận, bị loại khỏi vòng chiến và tìm cách loại trừ họ để tránh hậu hoạ, lợi dụng vị thế " cả vú lấp miệng em ". Đó không phải là cách làm chính trị theo phương thức dân chủ, càng không thể là cách" làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô ". 4 - Đặc tính trần thế của chính trị. Tôn trọng đặc tính trần thế của các lãnh vực chính trị là một phương thế khác " làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô ". Các thực tại trần thế - trong đó có những thực tại chính trị, xã hội - do ý muốn của Đấng Tạo Hoá là những thực thể có đặc tính trần thế thực hữu, tốt đẹp, có mục đích riêng biệt và luật lệ cá biệt của mình, được Đấng Tạo Hoá đặt trong chính bản tính của mình và không cần có lề luật siêu nhiên nào trợ lực : - " Omne ens est unum, bonum et verum" ( Mọi thực thể là một thực thể duy nhứt, tốt đẹp và thực hữu), nói như định nghĩa của môn Siêu Hình Học ( Ontologia). Đặc tính tự lập về phương diện cùng đích cũng như luật lệ tự nhiên được Chúa khắc ghi vào trong bản thể của mỗi tạo vật, như ý Chúa muốn, người tín hữu Chúa Ki Tô khi hành xử đối với tạo vật cần phải kính trọng. Mặc dầu chúng ta biết rằng cùng đích tối hậu của moi tạo vật, hướng về đó các mục đích trung gian, kể cả các mục đích trung gian chính trị, đều phải quy hướng, trổi vượt hơn các mục đích tự nhiên của tạo vật. Đó là những gì Công Đồng Vatican II nói với chúng ta: - " Nhờ vào chính tác động của công việc tạo dựng mà mọi tạo vật nhận được thực thể, đặc tính tốt lành, các lề luật và thứ bậc của mình. Con người phải kính trọng tất cả những thực tại đó, nhận biết các nhu cầu của mỗi nghệ thuật và khoa học" ( GS, n. 36; Apstolicam Actuositatem, nn. 7, 31b). Hiểu như vậy, chúng ta thấy được chính trị mang đặc tính trần thế của mình. Điều đó có nghĩa là từ đức tin, chúng ta không thể diển dịch trực tiếp một khuôn mẫu xã hội, cơ chế chính trị hay chương trình chính đảng. Phúc Âm chỉ cho chúng ta những giá trị, gợi ý cho chúng ta những tác động xã hội chính trị phải có để xây dựng một xã hội con người, những không chỉ cho chúng ta khuôn mẫu nào phải lựa chọn, chương trình nào phải thực hiện và thực hiện trước sau để thành đạt được mục đích. Đặc tính trần thế của chính trị làm cho những ai trung thành với đức tin và lời giáo huấn của Giáo Hội để dấn thân vào lãnh vực xã hội chính trị, không làm biến thể chính trị thành môi trường để phục vụ hàng giáo phẩm hay giáo phẩm trị . Nói cách khác, đặc tính trần thế của chính trị làm cho người làm chính trị chân chính, " làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô " dấn thân phục vụ chính trị với mục đích khác hơn, nhằm vào những gì là mục đích đích thực của chính trị: nhằm đem lại công ích. ( Từ ngữ " chính trị " ( politique, policy, politica, politik: phát xuất từ " Polis", Hy Lạp, ( thị xã hay thành phố). Như vậy " Politiké", phương thức tổ chức cuộc sống, hoạt động trong thị xã để phân chia công việc, nhiệm vụ, nhằm đem lại lợi ích cho mỗi công dân, cũng như lợi ích chung cho cuộc sống cộng đồng trong thị xã). Như vậy " làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô" không phải là lợi dụng chính trị để phục vụ hàng giáo phẩm, phục vụ giáo phẩm trị, phục vụ lợi ích cho Giáo Hội, hoặc là trực tiếp để thi hành sứ mạng tông đồ hay rao giảng Phúc Âm. Người tín hữu giáo dân cần nhận thức rằng cách tốt đẹp nhứt để cộng tác vào sứ mạng duy nhứt của cả Cộng Đồng Dân Chúa để rao giảng Phúc Âm là - làm sống động thực tại trần thế, là lãnh vực cá biết của người tín hữu giáo dân, bằng cách hành xử " như người tín hữu Chúa Ki Tô". - tôn trọng đặc tính trần thế của lãnh vực chính trị và học hỏi, nghiên cứu tạo được cho mình có khả năng chuyên biệt trong những lãnh vực khác nhau, - và tác động phục vụ của mình trong chính trị với mục đích duy nhứt là mưu cầu đem lại công ích cho đồng bào mình nói riêng và phục vụ con người nói chung: - " Các cuộc dấn thân và hoạt động trần thế là của chính người tín hữu giáo dân, mặc dầu không phải là đặc quyền của một mình họ. Như vậy khi hành xử với tư cách là người công dân, cá nhân cũng như đoàn thể, không những họ phải tôn trọng các luât lệ của mỗi lãnh vực, mà còn phải cố gắng đạt được những khả năng chuyên môn có thẩm quyền đích thực trong các lãnh vực đó ( ...). Bổn phận của lương tâm họ, một khi có được sự huấn luyện tương ứng phải có, là viết luật của Thiên Chúa thành ra những đạo luật vào cuộc sống của thị xã trần thế " ( GS, n. 43). Trích Tổng Lược Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội, n. 571: Ý nghĩa đích thực của quan niệm trần thế. Việc dấn thân của người tín hữu Chúa Ki Tô trong chính trị thường được đặt trong trạng thái liên hệ đến " đặc tính trần thế " ( laicità) ( chớ không phải vô đạo, laicismo hay chống đối hàng giáo phẩm, anticlericalismo), đúng hơn là sự phân biệt giữa lãnh vực chính trị và lãnh vực tôn giáo. Sự phân biệt đó là - " một giá trị được Giáo Hội khám phá ra và nhận biết, và thuộc về tài sản mà nền văn minh được đạt đến ( Congregazione per dottrina della fede, Nota dottrinale circa alcune questioni riguardanti l'impegno e il comportamento dei cattolici nella vita politica, ( 2006 ), 6). Nhưng nền luân lý công giáo loại trừ hẵn nhãn quang, theo đó " đặc tính trần thế" được hiểu như là tự lập đối với lề luật luân lý: - " Đặc tính trần thế", trước tiên nói lên thái độ của những ai tôn trọng các chân lý phát xuất từ sự hiểu biết tự nhiên về con người sống trong xã hội, dẫu cho các chân lý đó đồng thời cũng được giảng dạy bởi một tôn giáo cá biệt, bởi lẽ chân lý luôn luôn là một" ( id.). Thành thực tìm kiếm chân lý, phát huy và bảo vệ bằng các phương tiện chính đáng các chân lý luân lý liên quan đến đời sống xã hội, công bằng, tự do, tôn trọng đời sống và các quyền khác của con người, đó là quyền và bổn phận của mọi thành phần sống trong cộng đồng xã hội và chính trị. Khi giáo quyền can thiệp về các vấn đề liên quan đến đời sống xã hội, chính trị, không phải là những ai có nhiệm vụ không còn có bổn phận phải giải thích chính đáng đặc tính trần thế, bởi vì - " Giáo hội không hề muốn áp đặt một quyền lực chính trị hay loại trừ tự do tư tưởng về những vấn đề trần thế. Đúng hơn - như bổn phận của mình đòi buộc - Giáo Hội có ý huấn dạy và soi sáng lương tâm các tín hữu, nhứt lài những ai dấn thân vào đời sống chính trị, nhờ đó tác động của họ luôn nhằm mục đích thăng tiến toàn diện con người và công ích. Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội không phải là một sự can thiệp vào nội bộ của mỗi Quốc Gia. Chắc chắn Giáo Hội đặt vấn đề đối với các tín hữu giáo dân bổn phận phải trung thành với lề luật luân lý, với lương tâm trong tâm hồn mình, là lề luật duy nhứt và quy tựu hợp nhứt giữa mọi người " ( id.). 5 - Tự lập lựa chọn chính trị. Tiêu chuần thứ ba của việc dấn thân " làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô " là tự lập có trách nhiệm trong các việc lựa chọn của mình. Người tín hữu giáo dân không phải chỉ là người thừa hành " lệnh trên" của hàng giáo phẩm trong lãnh vực xã hội: - " Từ các linh mục, người tín hữu giáo dân nên trông đợi ánh sáng và sức mạnh thiêng liêng. Nhưng họ đừng nghĩ rằng các chủ chăn của họ luôn luôn là những người kinh nghiệm đến độ , bất cứ vấn đề gì, ngay cả những vấn đề hệ trọng, các vị cũng có thể có giải pháp thiết thực sẵn sàng hay đó chính là sứ mạng của các vị: đúng hơn họ hãy nhận lãnh trách nhiệm của mình, dưới ánh sáng khôn ngoan Ki Tô giáo và luôn luôn để tâm trung thành với tín lý của Giáo Hội " ( GS, n. 43 ). Người tín hữu giáo dân phải là những người có trách nhiệm và tự lập trong các việc lựa chọn chính trị của mình. Ngoài ra họ còn được mời gọi tham gia tích cực giúp các vị chủ chăn trong việc soạn thảo ra chính " Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội ", cung cấp cho các vị kinh nghiệm và hiểu biết chuyên môn trong lãnh vực của mình: - " Ước gì họ là những người có khả năng để cộng tác, về phía lãnh vực chuyên môn của họ, cho huấn dụ được phát triển, cũng như áp dụng huấn dụ đó một cách chính đáng vào các trường hợp cá biệt " ( Apostolicam Actuositatem, n. 31b). Các vị chủ chăn có bổn phận soi sáng lương tâm và trí thức của các tín hữu, cũng như phán đoán các chọn lựa chính trị thích hợp nhiều hay ít đối với Phúc Âm. Trong khi đó thì bổn phận của các tín hữu giáo dân là " trung thành " và can đảm trong các việc chọn lựa chính trị của mình, chấp nhận các nguy hiểm và trách nhiệm: - " Bổn phận của các vị chủ chăn là tuyên bố một cách rõ rệt các nguyên tắc về cùng đích của công trình tạo dựng và cùng đích của việc xử dụng tạo vật trần thế ( ...). Phân sự của giáo dân ( ...) là trực tiếp tác động và một cách thiết thực; như là người công dân cộng tác với những công dân khác, tùy theo thẩm quyền chuyên biệt và dưới trách nhiệm của chính mình" ( Apostolicam Actuositatem, n. 7 ). Đức Thánh Cha Benedictus XVI tổng hợp vai trò của người tín hữu giáo dân trong chính trị như sau: - " Như là công dân của một Quốc Gia, người tín hữu giáo dân được mời gọi trực tiếp đứng ra tham dự vào cuộc sống công cộng. Họ không thể lẫn tránh " hoạt động đa diện và khác nhau trong lãnh vực kinh tế, luật pháp, quản trị và văn hoá, để thăng tiến theo cấu trúc và bằng cơ chế lợi ích chung... Như vậy, sứ mạng của người tín hữu giáo dân là có quan niệm chính đáng về cuộc sống xã hội, tôn trọng sự tự lập chính đáng và hợp tác với những công dân khác tùy theo khả năng và dưới trách nhiệm của chính mình. Mặc dầu các hình thức bác ái của Giáo Hội không nên được lầm lẫn với các động tác của Quốc Gia, dầu vậy bác ái phải là động lực làm sống động của cuộc sống người tín hữu giáo dân, được sống như là " bác ái xã hội" ( ĐTC Benedicuts XVI, Deus Caristas est ( 25.12.2005), n. 29). Trích Tổng Lược Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội, 568, 570. n. 568: Trung thành với các giá trị và theo thứ bậc của chính trị học. Người tín hữu giáo dân được mời gọi hãy định chuẩn, trong các hoàn cảnh thực tế chính trị, những bước tiến thực sự có thể để đem ra thực hiện các nguyên tắc và các giá trị luân lý của cuộc sống xã hội. Điều vừa kể đòi buộc một phưong thức chuẩn định vừa cá nhân vừa cộng đồng, kết tựu chung quanh một vài điểm chính: - hiểu biết hoàn cảnh hiện thực, được phân tích với sự trợ lực của các khoa học xã hội và các dụng cụ thích ứng, - suy nghĩ một cách có hệ thống các thực tại, dưới ánh sáng bất di dịch của Phúc Âm và Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội, - chuẩn định những chọn lựa nhằm giải quyết một cách tích cực hiện trạng đang diễn ra.Từ việc biết lắng nghe thâm sâu và giải thích thực trạng có thể phát sinh ra những lựa chọn cụ thể và hữu hiệu, - nhưng đối với tất cả những gì có thể lựa chọn như vừa kể, không bao giờ nên gán cho chúng những giá trị tuyệt đối, bởi lẽ không có vấn đề nào có thể giải quyết theo phương thức được coi là duy nhứt: " đức tin không bào giờ có kỳ vọng trói buộc trong một khung viên cứng rắn các nội dung xã hội - chính trị, bởi lẽ đức tin ý thức rằng trong tầm vóc lịch sử con người đang sống, cần phải chuẩn định sự hiện diện của những hoàn cảnh không hoàn hảo và thường thay đổi mau chóng" ( Congregazione per la dottrina della fede, Nota dottrinale circa alcune questioni ..., cit, n. 7). n. 570: Trong các lãnh vực và thực tại có liên quan đến đòi buộc luân lý căn bản hay trong trường hợp các lựa chọn luật pháp và chính trị nghịch lại các nguyên lý và giá trị Ki Tô giáo, Giáo Hội day chúng ta: - " Lương tâm Ki Tô hữu được huấn luyện tốt đẹp không cho phép bất cứ ai dùng lá phiếu của mình để thực hiện một chương trình chính trị hay một đạo luật riêng biệt trong đó nội dung căn bản của đức tin và luân lý bị khuynh đảo bởi những đề nghị thay thế hay ngược lại các nội dung đó" ( id., n.4). Trong trường hợp không thể loại bỏ việc thực thi những chương trình chính trị, ngăn cản hay loại bỏ một vài đạo luật có nội dung ngược lại giá trị Ki tô giáo, Giáo Hội dạy chúng ta rằng một dân biểu Quốc Hội mà ai cũng biết chính kiến đối ngược của ông, có thể đứng ra ủng hộ cho những đồ án nhằm giảm thiểu những tai hại của các đồ án và luật lệ vừa kể, và giảm thiểu hậu quả tiêu cực liên quan đến văn hóa và luân lý công cộng. Dù sao đi nữa, lá phiếu của ông không thể được giải thích như là lá phiếu ủng hộ một đạo luật bất chính, cho bằng là một đóng góp nhằm giảm thiểu mối nguy hại của một đạo luật, mà người hay nhóm người đề xướng phải nhận lãnh trách nhiệm của họ. Cần lưu ý rằng có những trường hợp xảy ra, trong đó có những trường hợp đòi hỏi luân lý căn bản và không thể nhượng bộ được. Trong các trường hợp vừa kể chứng nhân Ki Tô giáo phải được coi là bổn phận không thể thiếu kể cả đến việc phải hy sinh mạng sống, đến tử đạo, nhân danh đức bác ái và nhân danh phẩm giá con người. 6 - Đời sống đạo đức và khả năng chuyên môn. Điều kiện không thể thiếu thực sự " sine qua non", để có thể " làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô" đó là cần phải có những Ki Tô hữu đích thực. " Làm chinh trị như người tín hữu Chúa Ki Tô " đích thực là cuộc sống gồm nhiều đòi hỏi. - một đàng đức tin đòi buộc người tín hữu Chúa Ki Tô không được thụ động hay khiếm diện, mà phải hội nhập một cách tích cực vào đời sống xã hội, chính trị, - nhưng đàng khác cũng đổ lên vai người tín hữu Chúa Ki Tô gánh nặng gắng công, mệt sức và trách nhiệm tìm hiểu, học hỏi và hiểm nguy liều lỉnh của các cuộc lựa chọn, - đức tin không thay thể cho khả năng chuyên môn của mỗi người, phải tự mình tìm lấy bằng học hỏi và tác động, như bất cứ người công dân nào khác, - và rồi còn cả bổn phận trung gian điều giải " mediazione" từ những nguyên lý tín lý và luân lý, thành những giá trị trong cuộc sống xã hội và biết liên kết với các phương thức và dụng cụ để đưa đến thực hành có kết quả tốt đẹp. Nói một cách ngắn gọn, mỗi việc lựa chọn chính trị của người tín hữu Chúa Ki Tô phải luôn luôn là kết quả của lòng trung thành: trung thành với các giá trị Ki Tô giáo hướng dẫn và gợi ý cho mình, và trung thành với luật lệ của chính nghệ thuật chính trị, " luật lệ thế trần " của các sự việc. Đặc tính trần thế của các lãnh vực xã hội chính trị, người tín hữu giáo dân không thể trực tiếp rút ra được từ đức tin, bởi vì là những đặc tính và lề luật thuộc lãnh vực trần thế, lãnh vực của lý trí, bởi đó cần phải được học hỏi, thí nghiệm và kiểm chứng một cách khoa học. Người tín hữu Chúa Ki Tô ngoan đạo thôi, chưa đủ để thành nhà chính trị tài ba. Để trở thành ngưòi tín hữu Chúa Ki Tô tốt lành và nhà chính trị tài ba lỗi lạc, cần phải là con người " có khả năng tổng hợp": biết nối kết nơi mình "lòng trung thành " với đức tin và " tôn trọng đặc tính trần thế và khả năng chuyên môn của chính trị ". Sự sai lầm thường xuyên hiện nay mà người Ki Tô hữu vấp phải là đặt đời sống chiêm niệm và hành động như là hai đối cực khác nhau, dường như coi đời sống thiêng liêng và đời sống chức nghiệp thuộc hai tầng lớp không những khác nhau,mà còn tách rời nhau: - " Thật là sai lạc ai là người ( ...) cho rằng ( ...) họ có thể chễnh mãng phận vụ trần thế của mình và không nghĩ rằng chính đức tin càng thúc đẩy họ chu toàn hơn nữa, tùy theo ơn gọi của mỗi người. Nhưng trái lại, cũng không phải là không sai lạc những kẻ cho rằng mình hoàn toàn ngụp lặn vào các công chuyện trần thế, coi như thể công việc trần thế là những gì hoàn toàn xa lạ đối với đời sống tôn giáo, là lãnh vực mà theo họ, chỉ hoàn toàn thuộc về các nghi thức tế tự hay một vài bổn phận luân lý. Sự tách rời , không phải đối với một số ít người, giữa đức tin mình tuyên xưng và đời sống thường nhật, cần được ghi nhận là sự sai lạc giữa những sai lạc hệ trọng trong thời đại chúng ta" ( GS, n. 43). Trích Tổng Lược Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội Đời sống đạo đức của người tín hữu Chúa Ki tô trong chính trị. n. 545: Người tín hữu giáo dân được mời gọi vung trồng một nền đạo đức giáo dân đích thực, tái sinh họ lại như là những con người mới, chìm ngập trong mầu nhiệm Thiên Chúa và được hội nhập vào trong xã hội; họ là những vị thánh và những vị có khả năng thánh hóa. Lòng đạo đức thiêng liêng như vừa kể xây dựng thế giới theo đồ án Thánh Thần của Chúa Giêsu: - khiến cho họ có khả năng nhìn qua bên kia lằn mức lịch sử, nhưng không xa rời lịch sử, - khiến cho họ tăng trưởng mỗi ngày tình yêu say sưa đối với Thiên Chúa, nhưng không cất mắt mình khỏi anh em, - khiến cho họ co khả năng nhìn anh em như Chúa nhìn và thương yêu anh em như Chúa thương yêu họ. Đó là cách sống đời sống đạo đức xa cách với cách chỉ sống thiêng liêng nội tâm, mà cũng xa cách với lối sống náo động xã hội. Đời sống Ki Tô hữu của họ là sống thể hiện bằng khả năng " tổng hợp", quy hướng hợp nhứt, tạo được ý nghĩa và niềm hy vọng cho cuộc sống từ những lý do đối nghịch và chia tách, rạn nứt. Với cách sống đạo đức như vừa kể, người tín hữu giáo dân có thể góp phần - " như là men bột để thánh hoá thế giới từ bên trong, trong khi chu toàn các phận vụ của họ dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm và như vậy họ... đem Chúa Ki Tô đến cho người khác, trước hết bằng chính nhân chứng của đời sống họ" / Lumen Gentium, n. 31). n. 546: Người tín hữu Chúa Ki Tô phải kiện toàn đời sống thiêng liêng và luân lý, học hỏi nghiên cứu để có khả năng chuyên môn cần thiết cho việc dấn thân phục vụ xã hội. Đào sâu những nguyên nhân nội tâm và học biết cách hành xử tương ứng cho công cuộc dấn thân phục vụ xã hội và chính trị là một chương trình tiến triển năng động và không ngừng của giáo dục, nhằm phối hợp được đời sống và đức tin, trong nhiều mối liên hệ chằng chịt và phức tạp của vấn đề. Thật vậy kinh nghiệm cho thấy - " không thể có hai con đường song song nhau: một bên là đời sống thiêng liêng với những giá trị và đòi buộc của mình; bên kia là đời sống trần thế, hay đời sống gia đình, việc làm, các tương quan xã hội, phận vụ chính trị và văn hoá" (ĐTC Gioan Phaolồ II, Christifideles laici ( 1989), n. 59). Người tín hữu Chúa Ki Tô dấn thân vào chính trị phải là con người có khả năng tổng hợp nhịp nhàn giữa đời sống thiêng liêng và các chuyên lo trần thế. Một con người có cuộc sống tổng hợp tốt đẹp lý tưởng như vừa kể, không phải chúng ta có được tự nhiên trên trời rớt xuống, mà là con người phải được đào tạo mới có được. Điều vừa kể cho thấy phận vụ không thể thiếu của - các họ đạo, - của các trung tâm đào tạo công giáo, - học viện thần học, cũng như các học viện xã hội-chính trị học, để rèn luyện người tín hữu Chúa Ki Tô có khả năng tổng hợp đời sống đạo đức và kiến thức chuyên môn liên quan đến các lãnh vực trần thế, mà họ nhằm phục vụ. Tác phong " làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô " có nhiều đòi hỏi: - dành ưu tiên cho công ích, trước lợi thú cá nhân và phe đảng, - không hành xử bằng hy sinh tiếng nói lương tâm và giá trị luân lý, để đạt được mục đích cấp tốc và lợi thú vật chất, - chủ đích thực hiện hoà bình và công lý giữa mọi dân tộc, - dành ưu tiên cho những ai không có ưu thế và bị loại ra bên lề xã hội. " Làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô " là người dấn thân dâng hiến mình để phục vụ anh em, nhưng đồng thời cũng là người biết dành lại những lằn mức chuẩn định cho đời sống chiêm niệm, thiêng liêng, sống với Chúa. Thời gian dành cho cuộc sống cầu nguyện không phải là khoảng thời gian bị cướp lấy khỏi chuyên cần dấn thân chính trị, đúng hơn là thời gian thu thập nghị lực để tăng cường cường độ và hiệu năng cho chính trị. Hay nói như Thánh Gioan Kim Khẩu ( Giovanni Crisostomo): - " Người cầu nguyện là người có đôi tay mình đang đặt trên tay lái con thuyền lịch sử" ( G Lazzati, La preghiera del cristiano, AVE, Roma 1986, 22s).

 

Đề tài của đoạn Phúc Âm Chúa Nhật vừa qua ( Jn 15, 1-8) nói về trạng thái phải có của người môn đệ Chúa Giêsu để cho sứ mạng tông đồ đem đời sống đời đời đến cho anh em được kết quả mỹ mãn là " ở lại với Chúa Giêsu" hay gắn liền với Người như cành nho gắn liền với cây nho, tham dự vào mạch sống đang vận chuyển trong cây nho, vào đời sống của Chúa Giêsu thông hiệp với Chúa Cha. Đoạn Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay ( Jn 15, 9-17) được xem như là hậu quả tất nhiên phải có của cuộc sống " ở lại với Chúa Giêsu" hay thông hiệp vào đời sống thần linh của Thiên Chúa. Đó là cách sống yêu thương nhau giữa những môn đệ được Thiên Chúa thông ban đời sống thần linh của Người cho họ: - " Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" ( Jn 15, 12). Đoạn Phúc Âm chứa khá nhiều yếu tố rất có ý nghĩa, chúng ta tuần tự đề cập đến để suy niệm. a ) "Không phải anh em chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em…" ( Jn 15, 16). 1) Đọc Phúc Âm chúng ta có được nhiều chứng cứ của câu Phúc Âm vừa nói. Chính Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ Người. Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ đầu tiên là ông Simon Phêrô, ông Andrea anh của ông Phêrô, ông Giacobe và ông Gioan ( Mt 4, 18-22). Chúa Giêsu gọi ông Matthêu, khi thấy ông đang ngồi ở văn phòng thâu thuế ( Mt 9,9). Điều đó cho thấy rằng trở thành môn đệ Chúa Giêsu, vào làm việc trong cánh đồng truyền giáo của Chúa Giêsu là do ơn gọi, được Thiên Chúa tuyển chọn và ủy thác cho: ơn gọi trở thành chủ chăn, ơn gọi sống đời tận hiến của các tu sĩ nam nữ và cả ơn gọi để sống đời sống tín hữu giáo dân trong cuộc sống hôn nhân gia đình. Mỗi người chúng ta đều được Chúa tuyển chọn và ủy thác cho sứ mạng truyền giáo trong cuộc sống theo hoàn cảnh của mình, mỗi người tùy theo khả năng Chúa ban và môi trường Chúa muốn để sống ơn cứu rỗi của mình và đem ơn cứu rỗi đến cho anh em: - " Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái và hoa trái anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em" ( Jn 15, 16). Những suy nghĩ vừa rồi làm chúng ta xác tín rằng mỗi người chúng ta, con cái của các môn đệ trong đức tin để tiếp tục sứ mạng của các ngài, dầu ở đấng bậc nào, chúng ta cũng đang sống ơn gọi mà chúng ta nhận lãnh từ Chúa Cha, qua Chúa Giêsu, như có lần chính Chúa Giêsu đã nói rõ với các môn đệ Người: - " Như Chúa Cha đã ủy thác ( apostello) cho Thầy, thì Thầy cũng sai ( pempo) anh em" ( Jn 20, 21). Chúa Giêsu sai ( pempo) chúng ta đi, sống và thực hiện sứ mạng truyền giáo mỗi người trong hoàn cảnh cuộc sống của mình, là để tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu mà Chúa Cha đã ủy thác ( apostello) cho Người. Ơn cứu rổi của chúng ta và của anh em là những gì vượt quá khả năng loài người của chúng ta. Do đó, nếu Thiên Chúa không chọn chúng ta, không ủy thác cho chúng ta và không sai chúng ta đi, tự bản tính con người của chúng ta, chúng ta không có khả năng làm gì được: - " Nghe nói vậy, các môn đệ sửng sốt và nói: Thế thì ai có thể được cứu? Chúa Giêsu nhìn thẳng vào các ông và nói: Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, mọi sự đều có thể được" (Mt 19, 25). Tại sao? Bởi lẽ " lên thiên đàng" hay được cứu rỗi không phải chỉ là " không xuống hoả ngục" , mà là " tham dự vào chính bản tính thần linh của Thiên Chúa", được sống chính đời sống Thiên Chúa của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúng ta là những đứa con, được Chúa cho tham dự vào chính đời sống Thiên Chúa của Cha mình: - " Nhờ vinh quang và sức mạnh ấy (của Chúa Giêsu), Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì qúy báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa…" ( 2 Pt 1,4). Được cứu rỗi là được " thông phần bản tính Thiên Chúa" . Do đó nếu Thiên Chúa không cho phép, không mời gọi, không chọn chúng ta, không sai chúng ta đi để loan báo cho anh em, không cho phép chúng ta " tham dự vào bản tính Thiên Chúa" của Người, thì chúng ta không làm được gì hết: - " Đối với loàn người, thì điều đó không thể được". Nhưng điều đó không có gì là không thể làm được, khi Thiên Chúa vì lòng thương ban cho chúng ta quyền được tham dự, quyền của những đứa con hưởng gia tài trọng đại của Người Cha: - " nhưng đối với Thiên Chúa, mọi sự điều có thể được". 2 ) Kế đến câu nói " Không phải anh em chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em" ( Jn 15, 16 ) không phải là câu Chúa Giêsu nói lên để làm giảm bớt giá trị quyền tự do định đoạt của mỗi người chúng ta trong việc nhận lãnh sứ mạng được ủy thác và sai đi để cứu rỗi chúng ta và cứu rỗi anh em, mà một câu nói bảo chứng xác nhận nguồn gốc sứ mạng và ơn kêu gọi chúng ta chu toàn, phát xuất từ Chúa Cha, từ ý muốn cứu rỗi nhân loại của Chúa Cha: - " Như Chúa Cha đã ủy thác cho Thầy, thì Thầy cũng sai anh em" ( Jn 20, 21). Xác tín được sứ mạng của mình chính là sứ mạng cứu rỗi do Chúa Cha ủy thác và mình được Chúa Giêsu chọn để tiếp tục sứ mạng là động lực và nền tảng vững chắc cho những bước đi trên bưóc đường tông đồ. Trong nhiều hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống, cũng như trong việc sống và thực hiện sứ mạng, việc cảm thấy lẻ loi, tư tưởng biết đâu mình đã lầm đường, biết đâu mình đã không tự gán cho mình việc mà không ai sai biểu và ủy thác, không phải là không có. Biết được Chúa Giêsu chọn mình để sống ơn cứu rỗi và đem ơn cứu rỗi đến cho anh em làm cho chúng ta can đảm và vững chí thực hiện sứ mạng vui tươi và khiêm tốn, bởi vì sứ mạng chúng ta có được là sứ mạng được Chúa thương ban, ủy thác và sai đi, chớ không phải do công đức của chúng ta: - " Đối với loài người, điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, mọi sự đều có thể được" ( Mt 19, 25). b) " Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em" ( Jn 15, 12). Câu Phúc Âm vừa được trích dẫn là câu Chúa Giêsu lập lại những gì Người đã nói với các môn đệ trong lời cáo biệt sau buổi tiệc cuối cùng: - " Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy thương yêu nhau. Anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy ở điểm nầy, là anh em có lòng thương yêu nhau" ( Jn 13, 34-35). Muốn hiểu được tại sao " anh em hãy thương yêu nhau" " điều răn mới " của Phúc Âm Chúa Giêsu, trong Phúc Âm Thánh Matthêu, Chúa Giêsu đã đề cập đến điều răn mới của Ngài so với đường lối khôn ngoan và cách cư xử công bình thế tục: - " Anh em đã nghe Lề Luật dạy rằng: Mắt thế mắt, răng đền rang. Hãy yêu người đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những người ngược đãi anh em. Như vậy anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng cho kẻ xấu cũng như người tốt, cho mưa xuống trên ngưòi công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao?..." ( Mt 5, 38.43- 46) . - " Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không? Chúa Giêsu đáp: Thầy không bảo là bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy" ( Mt 18, 21-22). Qua những gì vừa đọc, chúng ta thấy được trương độ bao la của " điều răn mới " Phúc Âm: - " Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy thương yêu nhau, như Thầy đã yêu thương anh em" ( Jn 15, 12). Trương độ của điều răn đó, qua những gì chúng ta vừa đọc, không phải chỉ hạn hẹp trong khuôn viên nhóm mười một môn đệ, cũng không phải chỉ tóm gọn trong lãnh vực các cộng đồng Ki Tô hữu đầu tiên cũng như hiện đại của chúng ta. Trương độ đó bao gồm tất cả mọi người, tín hữu Chúa Ki Tô hay không tín hữu cũng vậy, bởi vì Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người, tín hữu hay không tín hữu, công chính hay không công chính cũng vậy: - " Cha anh em Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng cho kẻ xấu cũng như người tốt, cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính" (Mt 5, 45). Không những vậy, trương độ của điều răn tình thương mới đó còn bao gồm cả những người xúc phạm, ghen ghét, bách hại, thù hận đối với chúng ta: - " Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những người ngược đãi anh em." ( Mt 5, 44). Và thương yêu tha thứ cho họ không phải bảy lần, mà là " bảy mươi lần bảy" ( Mt 18, 22). Điều răn mới của tình thương đó, không những chúng ta chỉ tìm thấy ở những gì vừa được trích dẫn trong những dòng suy niệm trên. Chúa Giêsu giảng dạy và hành động làm chứng tình thương cho những gì Người giảng dạy trong điều răn mới bàn bạc trong các chương Phúc Âm. - "anh em hãy thương yêu nhau, như Thầy đã yêu thương anh em" ( Jn 15, 12). Đọc lại đoạn Phúc Âm diễn tả bối cảnh của buổi tiệc ly, trước khi Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ điều răn mới: - " Thầy ban cho anh em điều răn mới là anh em hãy thương yêu nhau. Anh em hãy thương yêu nhau, như Thầy đã yêu thương anh em" ( Jn 13, 34), Chúa Giêsu đã biều lộ tình thương bằng hành động: - " Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau" ( Jn 13, 14). Như vậy, yêu thương không chỉ có nghĩa là cảm thấy trái tim rung động hồi hộp; thông cảm động lòng rưng nước mắt trước những khổ tâm, bần cùng, bất hạnh của người khác, mà là biểu lộ tình thương bằng hành động để làm giảm bớt những lo âu, đau khổ, khốn cùn của họ. Chúa Giêsu giảng dạy " anh em hãy thương yêu nhau , như Thầy đã yêu thương anh em" , nhưng trước đó chính người dã qùy xuống rửa chân cho từng môn đệ, biểu lộ tình thương bằng hành động để giảm bớt những thiếu thốn, bần cùng, bất hạnh của con người. Trong Phúc Âm Người đã biến nước thành rượu trong tiệc cưới khi họ hết rượu, hoá bánh và cá ra nhiều để nuôi dân chúng đi theo nghe Người giảng dạy. Người đã không ngừng làm phép lạ để chữa bệnh tật cho - " người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng" ( Mt 11, 5) . Chúa Giêsu không những rao giảng tình thương mà còn chứng minh tình thương của Người bằng hành động, bằng cách ngồi ăn đồng bàn với những ai bị khinh rẻ miệt thị, bị loại ra bên lề xã hội: - " Khi Chúa Giêsu đang dùng bữa tại nhà ông ấy, có nhiều người thu thuế và kẻ tội lỗi kéo đến, cùng ăn với Người và các môn đệ…" ( Mt 9, 19). Và Người còn đứng về phía người tội lỗi để bênh vực họ, đem lại niềm tin cho họ để họ có cơ hội và nghị lực để trở lại với tình thương Thiên Chúa: - " Vì Ta đến không để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi " ( Mt 9, 13). Chúa Giêsu cũng đứng ra bênh vực cô Madalena, một cô gái điếm, chống lại những lời châm biếm của những ai tự cho mình là công chính để chỉ trích cô: - " Vì thế, Ta nói cho các ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít. Rồi Chúa Giêsu nói với người phụ nữ: Tội của con đã được tha rồi". ( Lc 7, 47-48). Và rồi để bênh vực kẻ yếu thế, cô đơn đối với những kẻ hành xử quyền lực bất chính, gian dối, giả hình, lường lọc, Chúa Giêsu không rụt rè khi phải hành xử quyền giảng dạy và quyền mục tử nhân lành, đứng lên chạm trán thẳng với sói rừng: - " Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các người khóa cửa Nước Trời không cho thiên hạ vào. Các người đã không vào, mà những kẻ muốn vào, các người cũng không để họ vào. Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các người giống như mả tô vôi, bên ngoài đẹp đẻ, nhưng bên trong thì đầy xương người và đủ mọi thứ ô uế bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác". ( Mt 23, 13. 27-28). Thái độ đại lượng và can đảm hy sinh đến chính cả mạng sống mình chống lại sói rừng để bênh vực chiên, bênh vực những ai được giao cho mình trách nhiệm phải chăn sóc của Chúa Giêsu là gương mẫu để chúng ta suy nghĩ: - " Ta là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống ( psyché = linh hồn) mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, vì không phải mục tử, và vì chiên không thuộc về anh ta, nên khi thấy sói đến, anh ta bỏ chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên chạy tán loạn" ( Jn 10, 11-12). Phải chăng đó là thái độ phải có của những ai là mục tử, chớ không phải bỏ chạy, lẫn trốn khi thấy sói rừng? - "Anh em hãy thương yêu nhau, như Thầy đã thương anh em". Thầy đã thương anh em, đã hy sinh mạng sống ( linh hồn) mình để bênh vực anh em. Tình thương Ki Tô giáo là vậy, không phải chỉ bằng tình cảm, lời nói, mà cả bằng hành động và hy sinh, cả linh hồn mình nếu cần để bảo vệ những ai mình thương yêu.

 

Thường khi nói đến chính trị, chúng ta có hai thái độ tiêu cực: hoặc dững dưng hoặc xa lánh. Thái độ dững dưng là thái độ khá thông thường của những người cho rằng chính trị dành cho những kẻ có ''tham vọng'' thì lăng xã vào, còn đối với tôi , nó xa vời, '' không ăn nhậu'' gì. Đó là thái độ thông thường, được anh Michael viết thư cho chúng tôi cách đây không lâu để nói lên tâm thức của đồng bào bên nhà: "Giới trẻ ( từ 25 tuổi trở xuống) không biết gì về quốc gia và cộng sản, mà họ chỉ đi học hay thụ hưởng. Từ 40 tuổi trở xuống chỉ lo kiếm sống nuôi gia đình, ít màng đến chuyện chính trị chính em" Thật ra những vấn đề chính trị, nhứt là những đường hướng và quyết định chính trị, nhiều khi "ăn nhậu" khá sát với đời sống thường nhật và cả tương lai của chúng ta và con cháu chúng ta: - quyết định tăng giá xăng dầu, - cắt giảm phụ cấp gia đình, - tăng lãi xuất ngân hàng, - đánh thuế nặng vào hàng nhập cảng để bảo vệ sản phẩm nội điạ, - hối xuất của đồng bạc VN đối với việc cung cấp ngoại tệ cho việc nhập cảng dụng cụ và nguyên liệu, khác với hối xuất để nhập cảng sản phẩm tiêu thụ... - phương thức đủ và kịp thời để bao vệ sức khoẻ cho người bị tai nạn, tàn tật, bệnh hoạn, già nua. - cấu trúc và tổ chức học đường để huấn dạy và thăng tiến con người về nhiều mặt... là những quyết định chính trị đụng chạm khá trực tiếp đến túi tiền và mạng sống , tương lai của chúng ta và con cháu chúng ta.. Đó là chưa kể đến những quyết định quan trọng liên quan đến mạng sống hàng triệu người: - nên đặt ưu tiên giao thương với Hoa Kỳ hay Trung Cộng, - nên thương thuyết hay tuyên chiến với Cam bốt, - nên khai thác nguyên tử năng hay đấp đập thủy điện lực? Còn nữa: - "Tất cả mọi người đều được dựng nên bình đẳng như nhau.Tất cả đều được ĐấngTạo Hoá ban cho một số quyền bất khả nhượng. Trong các quyền nầy, quyền được bảo toàn mạng sống, quyền tự do tìm kiếm hạnh phúc là những quyền thượng đẳng" ( Tiền Đề Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776). - "Các Đại Diện đồng thanh tuyên bố rằng các quyền con người do Thiên phú, bất khả nhượng và cao quý" ( Tiền Đề Tuyên Ngôn Nhân quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp quốc 1789) . - hay " Đảng CS Sô Viết...xác định nền tảng cho thể chế xã hội và chính trị Công Hoà Liên Bang Sô Viết, thiết định các quyền, tự do và bổn phận của người dân..." ( Tiền Đề Hiến Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết). Đó là những đường hướng chính trị. Cũng vậy: - "Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo vệ nhân phẩm đó" ( Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức) - " Bổn phận của Quốc Gia là xóa bỏ di những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại vật vì giới hạn thực sự tự do và bình đẳng của người dân, ngăn cản không cho phép họ phát triển toàn vẹn con nguời của mình và tham gia thiết thực vào tổ chức chính trị , kinh tế, xã hội của xứ sở " ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Đó là những lời tuyên bố chính trị khác có liên quan đến việc con người được tôn trọng và được Quốc Gia cung cấp cho các đìều kiện thích ứng để cho mình có được một cuộc sống xứng đáng "người cho ra người" hay không. Còn nữa: - " Người công nhân được quyền thù lao xứng đáng , tương xứng với số lượng và phẩm chất công việc mình làm. Dù sao đi nữa, lương bổng cũng đủ để bảo đảm cho mình và gia đình mình một cuộc sống tự do và khan trang" ( Điều 36, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - "Người làm việc có quyền được tiên liệu và bảo đảm để có đủ phương tiện thích hợp, đáp ứng lại các nhu cầu đời sống trong trường hợp bị tai nạn, bệnh tật, tàn phế, già nua, thất nghiệp ngoài ý muốn" ( Điều 38, đoạn 2, id.) . - "Người phụ nữ công nhân cũng có đủ mọi quyền và việc làm như nam công nhân, cũng được thù lao như nam công nhân. Các điều kiện làm việc phải được thiết định thế nào để người phụ nữ công nhân có thể chu toàn bổn phận thiết yếu của mình trong gia đình,phải bảo đảm cho người mẹ và trẻ thơ bằng một sự bảo trợ đặc biệt và thích hợp..." ( Điều 37, đoạn 1, id.). Đó là những lời tuyên bố chính trị khác, không xa lạ gì với những nhu cầu cuộc sống thường nhật của chúng ta, nếu chúng ta muốn có một cuộc sống "khang trang " , văn minh, xứng đáng với nhân phẩm con người , "người cho ra người " . Chúng tôi còn có thể liệt kê thêm hàng trăm câu tuyên bố " chính trị " tương tợ, liên quan thiết thực với đời sống chúng ta không khó khăn gì. Chỉ cần trích ra từ các văn bản Hiến Pháp, nhứt là các Hiến Pháp của các Quốc Gia dân chủ và nhân bản Tây Âu. Bởi vì Hiến Pháp là văn bản " Mẹ Đẻ" ra đường lối chính trị Quốc Gia. Thái độ tiêu cực kế đến là coi chính trị như một cái gì dơ bẩn, xấu xa, bởi lẽ những người làm chính trị hay đảng phái chính trị thường dùng thủ đoạn bất chính, "mục đích biện chứng cho phương tiện" ( Macchiavelli), để đạt cho bằng được mục tiêu và cố nắm giữ quyền bính bằng mọi giá, cho cá nhân và cho đảng phái mình, dù có phải thủ tiêu bao nhiêu người và hành xử lợi ích cho bè đảng, không đếm xỉa gì đến công ích, loại trừ đối phương bằng thủ đoạn và nếu cần cả bằng vũ lực, tội tù, tra tấn, thủ tiêu, không đếm xỉa gì đến luật pháp luân lý. Qua những suy tư và trích dẩn trên, chúng ta đã có ít nhiều khái niệm về chính trị. I - Chính trị là gì? Để có một cái nhìn đúng đắn hơn với chính trị, thiết nghĩ chúng ta nên tìm hiểu chính trị qua những tư tưởng nguyên thủy của nó. Từ ngữ Chính trị của chúng ta có cùng ý nghĩa với danh từ Politique ( Pháp ngữ), Politica (La ngữ và Ý ngữ), Policy (Anh ngữ). Tất cả những danh từ Chính trị trong các ngôn ngữ vừa kể đều phát xuất từ danh từ Polis của Hy lạp, có ý nghĩa là Thành phố hay Thị xã. Thị xã Hy Lạp trong thời thượng cổ, nhứt là thời Cộng Hoà Athène được tổ chức như những tiểu quốc gia tự lập, trong đó mọi người được phân chia công tác tùy khả năng, từ gát cổng, quét đường đến tổ chức phòng vệ, sản xuất thủ công nghệ, tổ chức văn hoá nghệ thuật. Từ ý nghĩa - tổ chức phân chia công việc mà mọi người đều tham gia góp phần sao cho đời sống chung của Thị xã được ăn khớp nhịp nhàng đó, nảy ra những phương thức áp dụng vào Quốc Gia, - làm sao tổ chức hữu hiệu hơn, hoạt động hoàn hảo hơn, để mưu ích cho đời sống của từng cá nhân và lợi ích chung cho đời sống trong cộng đồng, đó là những tư tưởng khởi thủy của chính trị. Do đó, Chính trị (politique,politica policy) không có gí khác hơn là những phương thức tổ chức Thị xã ( Politiké), thoát xuất từ Polis , sao cho đời sống cộng đồng được trôi chảy, nhằm mưu ích cho mỗi cá nhân cũng như cho cuộc sống chung của cộng đồng. Đến thời Đế Quốc Roma bành trướng qua Hy Lạp, người La-tinh thu nhập cách tổ chức trên của Hy Lạp cho cuộc sống Thị Xã của họ. Thị xã, trong ngôn ngữ La tinh là Civis. Người sống trong thị xã được gọi là Civilis, là người có cuộc sông văn minh. Bởi vì trong tâm thức người La Tinh chỉ có những người sống trong Thị xã (Civis), mới là người có cuộc sống tổ chức Văn minh (Civilis), còn ai không sống trong cuộc sống hội nhập có tổ chức, không thể nào có đòi sống tiến bộ cho ra hồn, là người có cuộc sống Bán Khai Mọi Rợ (Barbarus):người có râu ria xồm xàm như quân Hung Nô, sống trong các Làng Mạc Hẻo Lánh(Pagus). Qua những tư tưởng Polis, Civis, Civilis, Barbarus, Pagus trên, chúng ta có thể rút ra một vài tư tưởng sau đây: Chính trị hiểu theo nghĩa Polis là những phương thức tổ chức Quốc Gia, nhằm đem lại lợi ích cho cuộc sống chung cộng đồng, mà cũng nhằm phục vụ cho từng người dân sống trong Quốc Gia, bởi lẽ, Quốc Gia hay dân tộc là những danh từ trừu tượng, được thể hiện trên thực tế bằng đời sống của từng người công dân một. Dĩ nhiên , trong một tập thể chính trị có tổ chức như Quốc Gia, nơi quy tựu chung sống của hàng triệu người, sẽ có nhiều phương thức tổ chức thích ứng cho cuộc sống chung và cũng liên quan đến cuộc sống riêng rẻ của từng người, nên công việc chọn lựa thể thức nào thích hợp nhứt sẽ hàm chứa việc người dân có quyền đứng ra quyết định để lựa chọn, người dân có chủ quyền lựa chọn để quyết định phương thức tốt đẹp nhứt để tổ chức Quốc Gia hay Dân chủ ( Demokratía). Dân Chủ theo nguyên ngữ Hy Lạp là Demokratía ( Demos, dân chúng; Krátos, quyền hành: quyền hành là của dân chúng hay dân chúng là chủ nhân của quyền hành , có quyền định đoạt đường lối để tổ chức Quốc Gia hay Chính Hướng, đường lối Chính Trị). Những ai muốn đứng ra lãnh đạo Quốc Gia có nhiệm vụ đề ra những phương thức tổ chức ( hay " Đường lối lãnh đạo Quốc Gia" hoặc " Chương trình chính trị " ( Politiké) , nói theo ngôn từ của chúng ta), để người dân phán đoán và lựa chọn. Những thủ đoạn, lường lọc, mỵ dân, khủng bố, cấu kết , bè phái để đoạt lấy và khăng khăng giữ lấy quyền bính tiêu diệt đối phương là những hành vi băng hoại chính trị (dégénération) , chớ không phải chính trị hiểu theo nguyên ngữ và tư tưởng cao đẹp khởi thủy của nó. 2) Ngưới Hy lạp, nhứt là người La tinh, cho rằng, người sống ngoài Thị xã ( Polis hay Civis) là những người man rợ, bán khai, bởi lẽ đời sống không có tổ chức để người nầy hổ trợ người khác, sáng kiến của người nầy bổ túc làm lợi ích cho ngươi khác, đời sống không thể nào có tiến bộ: "nhân vô thập toàn " là vậy. Tư tưởng đó vẫn còn có giá trị hiện đại đối với chúng ta. Chúng ta muốn trở thành văn minh, chúng ta muốn đất nước chúng ta tiến bộ, chúng ta phải ở trong Thị xã ( Polis hay Civis): chúng ta phải tham dự chính trị. Trong một Quốc Gia, tham gia chính trị có nghĩa là - bầu cử, - ứng cử để chuyển đạt ý kiến của người dân trong Quốc Hội, - để hành xử quyền của người dân giao phó cho trong Chính Phủ, - mà cũng có nghĩa là tham gia vào các tổ chức, đảng phái để nói lên tiếng nói, ảnh hưởng , đặt điều kiện với các tổ chức quyền lực Quốc Gia trong các quyết định chính trị, nếu chúng ta không muốn những ai cầm quyền đưa ra các quyết định áp đặt lên đầu lên cổ chúng ta và người đồng hương chúng ta. - Và sau cùng là cũng có thể đứng ra đảm nhiệm hành xử quyền lực Quốc Gia, đem tài năng hiểu biết của mình để làm lợi ích cho chính mình và cho đồng bào mình. Như vậy ý nghĩa của việc tổ chức Thị xã ( Polis) là những phương thức điều hành để phân công, mỗi người một việc, tùy khả năng và tuỳ nhu cầu của Thị xã, nhằm sao cho công việc của Thị xã được ăn khớp, nhịp nhàng, hữu hiệu. Nói cách khác, những phương thức đó hay "đường lối chính trị" phải nhằm phục vụ công ích. Bởi đó, dùng chính trị để trục lợi cho cá nhân, phe nhóm, để " phục vụ Đảng" là đi ra ngoài tư tưởng nguyên thủy cao cả của việc tổ chức chính trị. II - Tham vọng chính trị. Một số khá lớn dư luận quần chúng, mỗi khi thấy ai đứng ra tổ chức hội đoàn, sinh hoạt họp hàng với người khác, cho rằng " thằng cha đó có tham vọng chính trị". Dưới đây chúng ta thử xét ý nghĩa đứng đắn của câu nói trên. Cái lạ của thái độ phần đông chúng ta là gán " thằng cha đó tham vọng chính trị " cho những ai có khuynh hướng hoạt động chính trị, còn " tham vọng" ở những lãnh vực khác thì không thấy mấy ai chửi bới. Ví dụ không ai chửi bới một sinh viên cắp sách vào đại học : "thằng cha đó có tham vọng kỹ sư, con mẹ đó có tham vọng bác sĩ, bọn đó có tham vọng làm thú y, luật sư, giáo chức..." . Thái độ trên của chúng ta có lẽ thoát thai từ quan niệm sai lầm về chính trị như là một môi trường bẩn thỉu , thủ đoạn, bất chính chớ không phải từ quan niệm Polis, Civis: phương thức tổ chức để điều hành hoạt động quốc gia, mưu ích cho cuộc sống cộng đồng quốc gia và cho từng cá nhân mổi công dân trong cộng đồng. Nếu chúng ta có cái nhìn đứng đắn về chính trị theo tư tưởng Polis, Civis, tổ chức chính trị để phục vụ công ích, thì câu nói "thằng cha đó có tham vọng chính trị" sẽ không có ý nghĩa chê trách gì , ngoài ra hơn là "dốt, bất tài, vậy mà cũng tham vọng chính trị". Trong chiều hướng đó, câu phê phán của chúng ta nhằm đòi hỏi cũng như khuyến khích những ai muốn lãnh lấy trách nhiệm đối với đời sống hàng bao nhiêu triệu đồng bào phải là những người có đức độ và kiến thức. Người tay ngang không thể bốc đồng làm bác sĩ chữa bệnh, làm kỹ sư , kiến trúc sư thiết kế đồ án xây cất. Vậy thì tại sao người làm chính trị, cầm trong tay vận mệnh của bao nhiêu triệu đồng bào trong tay lại có thể là tên " tay ngang nhào vào chính trị": "Người làm thầy thuốc mà sai lầm, là giết hại mạng người, Người làm tướng mà sai lầm, tiêu diệt cả đoàn quân, Người làm chính trị mà sai lầm, đại hoại cả đất nước, Người làm tư tưởng mà sai lầm, tiêu diệt không biết bao nhiêu thế hệ" ( Khổng Tử ?). Một trích dẩn khác: "Nhiều học thuyết chính trị cảnh cáo chúng ta đừng lầm tưởng giữa những mơ ước đối với chính trị và những gì chính trị thể hiện trong thực tại...Những kết quả của chính trị và kinh tế không phải là những gì chúng ta mơ tưởng phải có, mà là những gì chúng ta đã đặt nền tảng thực hiện trước để có kết quả..." ( G. Sartori, Elementi di teoria politica, Il Mulino, Bologna 1975, 179). Viết tới những dòng nầy, người viết hồi tưởng lại miền Nam trước 1975. Chúng ta không nghi ngờ gì đến tài thao lược binh bị của những người lãnh đạo Quốc Gia lúc đó. Nhưng liệu những tướng tá cầm quyền thời đó có kiến thức chính trị tương xứng để lãnh đạo quốc gia trước cơn sóng gió của thời cuộc không? Biết đâu vận mệnh đất nước đã không ở trong một hoàn cảnh khác, nếu những vị lãnh đạo lúc đó có khả năng thực sự cho trách nhiệm. Đặt câu hỏi để chúng ta cùng suy nghĩ. Qua những gì vừa trình bày, nếu người làm chính trị có kiến thức, đạo đức và mục đích đem chương trình chính trị để phục vụ công ích bằng những phương tiện hợp pháp và chính đáng, thì câu nói "thằng cha đó có tham vọng chính trị " sẽ trở thành vô nghĩa, nếu không phải phát sinh từ những hậu ý bất chính nào đó. III - Chính trị và lương tâm Ki Tô hữu. - "Người công giáo có khả năng về chính trị không nên thối thoát trong việc đảm nhận những chức vụ công cộng, bởi vì họ có thể góp phần một cách hữu hiệu vào việc quản trị công ích..." ( Apostolicam Actuositatem, 14) Hoặc: - " Người Kitô hữu phải hợp tác với tất cả những người khác trong việc tổ chức đúng đắn những lãnh vực kinh tế, xã hội..." ( Ad Gentes Divinitus, 12). Còn nữa: - " Người Kitô hữu có bổn phận nặng nề, phải hợp tác với tất cả những người khác trong việc xây dựng một thế giới xứng đáng với địa vị con người hơn" ( Gaudium et Spes, 35) Ba văn kiện mà chúng tôi vừa trích dẩn ( và còn nhiều văn kiện khác của Công Đồng Vatican II, cũng như những Thông Điệp mới đây của Đức đương kim Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II: Sollecitudo Rei Socialis, Christi Fideles Laici, Centesimus Annus) , qua những từ ngữ - " không nên thối thoát"," phải hợp tác"," có bổn phận nặng nề" đặt người tín hữu Chúa Kitô trước chính trị, không như trước một trò chơi giải trí, một hobby, mà là trước lương tâm trách nhiệm. Từ ngữ "Tham vọng chính trị " đối với người tín hữu Chúa Kitô không những phát biểu một tư tưởng lỗi thời, không cần phải đặt ra, theo ý nghĩa nguyên thủy cao cả của tư tưởng Polis,Civis chúng ta đã thấy ở trên cũng như theo ý thức trách nhiệm trong những văn kiện của Giáo Hội vừa đề cập. Dĩ nhiên Giáo Hội không xác định mức độ đến đâu mỗi tín hữu phải tham dự vào chính trị. Điều đó tùy thuộc khả năng, hoàn cảnh và lương tâm của từng người. Câu hỏi được đặt ra có ý nghĩa hơn , có lẽ là câu phát biểu thái độ ngược lại với "tham vọng chính trị" . Đó là " dững dưng đối với chính trị", "đứng ra ngoài chính trị, để ai làm gì mặc ai". Để trả lời cho lương tâm người tín hữu Chúa Kitô trong trường hợp nầy, Chúa Giêsu kể cho chúng ta dụ ngôn "Người Samaritano" : người Samaritanio dừng lại băng bó vết thương và cỏng người bị cướp đánh giở sống giở chết bên vệ đường về quán trọ để chăm sóc, trong khi đó thì vị thông thái luật cũng như thầy tư tế thấy kẻ xấu số, lách sang rồi bỏ đi luôn . Nếu chúng ta quy tóm Mười Giới Răn của giáo lý Thiên Chúa Giáo lại chỉ còn Hai Giới Răn: kính Chúa và yêu người, chúng ta sẽ thấy được lời tuyên án nặng nề của Thánh Gioan đối với những ai không có lòng đối với người anh em đồng loại: " Ai không yêu thương anh em là người mình thấy được, làm sao có thể kính yêu Thiên Chúa, Đấng mà mình không thấy" ( 1 Jn 4, 20) Nói cách khác, ai không thương yêu anh em, thì cũng không thể kính yêu Thiên Chúa, không còn phải là người tín hữu Chúa Kitô. Người không kính yêu Thiên Chúa, mà cũng chẳng tha thiết gì đến anh em, là người vừa vô đạo vừa bất nhân, không có gì tốt đẹp cho cuộc sống đời sau của mình. Một trong những điểm nổi bật của Công Đồng Vatican II là làm cho chúng ta ý thức đến thái độ thiếu trách nhiệm trong việc "lách sang rồi bỏ đi luôn" (Lc.10,30-36) . Trong kinh Cáo Mình trước Công Đồng Vatican II chúng ta đọc thấy câu: - "...lòng động, lòng lo, miệng nói, mình làm. Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng...". Trong khi đó thì kinh Cáo Mình hiện tại, sau Công Đồng Vatican II cho chúng ta: - " ..tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót ( omissio). Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng..." So sánh hai kinh Cáo Mình, chúng ta thấy Công Đồng Vatican II làm cho chúng ta ý thức đến điều đáng lý chúng ta phải làm, nhưng chúng ta đã "tự ý bỏ qua" ( omissio, trong La ngữ có nghĩa là tự ý bỏ qua, mặc dầu mình ý thức đó là bổn phận, chớ không phải chỉ thiếu sót vì thờ ơ, quên lãng) , tạo ra việc chúng ta thiếu trách nhiệm đối với Chúa và đối với anh em, vì không thương yêu anh em , như lời khiển trách của Thánh Gioan ( 1 Gv. 4,20s). Điều - " tự ý bỏ qua, không hành động , không can thiệp vào việc mà đáng lý chúng ta phải làm " ( chớ không phải " thiếu sót " ) đó là một hành vi lỗi phạm một trong hai Giới Răn của Chúa, là tội, chớ không phải là hobby, muốn làm hay không cũng được. Ngoài ra những văn kiện của Giáo Hội thúc đẩy chúng ta ý thức đến việc dấn thân chính trị, cộng tác với anh em khác, với tất cả những người thành tâm thiện chí, công giáo hay không cũng vậy, để xây dựng một xã hội tương xứng hơn với địa vị con người, lương tâm Ki Tô giáo đòi buộc chúng ta "không được tự ý bỏ qua" ( omissio) trách nhiệm chính trị, khi đức bác ái đối với anh em, đối với Quốc Gia Dân Tộc, đòi buộc chúng ta phải hiện diện. Giả sử chúng ta có khả năng, có chương trình phát triển chính trị, xã hội, kinh tế hữu hiệu, hợp lý và khả thi, làm cho dân tộc chúng ta có đời sống " người cho ra người " hơn, nhưng vì lý do nào đó chúng ta "không tham vọng chính trị" , trốn tránh trách nhiệm, để mất cơ hội, để kẻ khác kém tài năng hơn lãnh đạo làm cho đất nước cơ cực, dân chúng ngu dốt, lầm than. Thái độ "vô trách nhiệm, tự ý bỏ qua" ( omissio) đó, chúng ta phải trả lời trước mặt Chúa, trong lời khiển trách của Thánh Gioan: - " Nếu ai nói: " Tôi yêu mến Thiên Chúa", mà lại ghét bỏ anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa, mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta nhận được từ nơi Người: ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình" ( 1 Jn 4, 20-21). Để kết thức, chúng tôi xin mượn lời Đức Giáo Hoàng Pio XI nói về chính trị: " Ngoài đức bác ái tôn giáo ra, không có đức bác ái nào lớn hơn đức bác ái chính trị, vì chính trị liên quan mật thiết đến đời sống con người " ( Pio XI, Discorso FUCI 1927, Osservatore Romano, 3). Và Đức Phaolồ VI mời gọi giáo dân: " ...việc dấn thân chính trị là một phương thức cần thiết...mặc dầu không phải là duy nhất, để người tín hữu giáo dân thực thi đức bác ái phục vụ người khác..." ( Paolo VI, Octogesima Adveniens, 46).

 

Phần đầu của đầu Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay ( Jn 15, 1-8), Thánh Gioan thuật lại cho chúng ta lời của Chúa Giêsu dùng hình ảnh ngụ ngôn của cây nho và cành dính liền với cây nho. Đây là hình ảnh sau cùng nói lên điều kiện thiết yếu để có một tương lai kết quả rực rỡ cho sứ mạng mà Chúa Giêsu ủy thác cho các tông đồ. Ủy thác sứ mạng cho các ông, để trấn an các ông, Chúa Giêsu hứa là Người sẽ không để các ông mồ côi: - " Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy sẽ trở lại cùng anh em. Chẳng bao lâu nữa thế gian không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em. Ai giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ ra cho người ấy thấy" ( Jn 14, 18-21). Chúa Giêsu cũng hứa sẽ ban cho các ông Chúa Thánh Thần, Đấng An Ủi ( Consolator) đến ở với các công và hỗ trợ các ông: - " Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng An Ủi khác, đến và ở với anh em luôn mãi. Đó là Thánh Thần của sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng không biết Người" ( Jn 14, 16-17). - " Đấng An Ủi đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại điều Thầy đã nói với anh em " ( Jn 14, 26). Và rồi Chúa Giêsu mở rộng cửa cho các môn đệ thấy viễn ảnh huy hoàng của sứ mạng tông đồ của các ngài: một cuộc sống sung mãn, đem lại nhiều kết quả, nếu các ông " ở lại với Người ", nếu các ông " gắn chặt vào Người ", như cành nho gắn chặt và thông hiệp với sức sống của cây nho: - " Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng vậy, nếu không ở lại trong Thầy. Thầy là cây nho, anh em là cành" (Jn 15, 2-5). Hình ảnh cuộc sống đồng áng, cảnh người gieo kẻ gặt, cây nho và cành nho không phải là hình ảnh mới lạ được Chúa Giêsu dùng để nói về sứ mạng tông đồ của các môn đệ trong Phúc Âm hôm nay. Hình ảnh trên đã được Chúa Giêsu hàng huyên với các môn đệ ở đất Samaria, khi Người báo cho các ông là kết quả việc tông đồ của các ông là đem lại sự sống đời đời cho con người: - " Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi cho cuộc sống muôn đời, và như thế cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui mừng.Thầy sai anh em đi gặt những gì anh em đã không phải vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả, còn anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ" ( Jn 4, 36-38). Và trước giờ chịu tử nạn sắp đến, Chúa Giêsu dùng một ngụ ngôn rất ngắn ngủi để nói về Người và về số phận truyền giáo của các tông đồ: - " Thật vậy, Thầy bảo thật anh em: nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trụi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác" ( Jn 12, 24). Và rồi đoạn Phúc Âm hôm nay ( Jn 15, 1-8) là phần đầu của chương 15 Chúa Giêsu dùng hình ảnh cây nho và cành nho để nói lên cách hành xử phải có của một người tông đồ, nếu muốn cho công cuộc truyền giáo của mình có kết quả đem lại " đời sống đời đời" cho anh em: - " Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng vậy, nếu anh em không ở lại trong Thầy…" ( Jn 15, 5). Nêu lên điều kiện tiên quyết đó, người tông đồ phải gắn liền với Chúa Giêsu, như "cành nho gắn liền với cây nho...,hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em", Chúa Giêsu cũng tiên báo những khó khăn đang đợi các tông đồ trên bước đường truyền giáo của các ông: - " Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng thế gian đã ghét Thầy trước. Nhưng anh em không thuộc về thế gian, vì Thầy đã chọn anh em, đã tách anh em ra khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em" ( Jn 15, 18). - " Họ sẽ khai trừ anh em ra khỏi hội đường. Hơn nữa, sẽ đến giờ kẻ nào giết anh em cũng tưởng mình thờ phượng Thiên Chúa. Họ sẽ làm như thế, bởi vì họ không biết Chúa Cha, cũng chẳng biết Thầy…" ( Jn 15, 19; 16,2). Hứa không để các môn đệ mồ côi, hứa ban Chúa Thánh Thần, Đấng An Ủi đến ở với các môn đệ và hỗ trợ các ông, mở rộng ra viễn ảnh huy hoàng cho thấy công việc của các ngài là công việc đem lại sự sống đời đời cho nhân loại và tiên báo những khó khăn phải gặp trên bước đường truyền giáo, Chúa Giêsu nói lên cách sống phải có trong khi thực hành sứ mạng tông đồ: luôn luôn liên kết mật thiết với Chúa Giêsu như cành nho gắn liền và thông hiệp đời sống của cây nho. Vườn nho đây không phải là vườn nho của Chúa Giêsu, mà chính là Chúa Giêsu cùng với các cành liên kết với Người Chúa Giêsu và tất cả các môn đệ " gắn liền và thông hiệp với Người " là vườn nho của Chúa Cha, những ai được Chúa Cha ủy thác ( apostello) cho sứ mạng cứu rỗi để cứu nhân loại. Viết Phúc Âm để nói lên lòng tin mãnh liệt của mình, chứng minh lòng tin đó và dạy cho các cộng đồng Ki Tô hữu đầu tiên niềm tin Chúa Giêsu là Thiên Chúa, là Con Thiên Chúa là Ngôi Lời Nhập Thể đem đến sự sống đời đời cho nhân loại, như đã viết trong Lời Tựa của Phúc Âm ( Jn 1, 1-18), Thánh Gioan lập lại một cách ngắn gọn khi đến viếng mộ Chúa Giêsu Phục Sinh: - " Ông đã thấy và tin"( Jn 20, 8). Hay ở một đoạn khác, sau khi những cảm xúc mãnh liệt đầu tiên được biết Chúa Giêsu sống lại đã qua đi, Thánh Gioan cắt nghĩa rỏ ràng hơn: - " Còn những điều đã được ghi chép ở đây là để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Ki Tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống, nhờ danh Người " ( Jn 20, 31). Đặt những lời huấn dạy của Chúa Giêsu cho các môn đệ trong Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay về cây nho và cành nho gắn liền với cây nho trong nhản quan vừa kể, chúng ta sẽ tự hỏi " cũng như cây nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng vậy, nếu anh em không ở lại trong Thầy…" ( Jn 15, 5)em> có nghĩa là gì? Đối với Thánh Gioan, đức tin không phải tin để mà tin, mà "để anh em tin mà được sống nhờ danh Người" . Đó cũng là ý nghĩa sâu xa của Kinh Tin Kính bằng La Ngữ chúng ta thường đọc: - " Credo in Unum Deum, Patrem Omnipotentem…". Nguyên bản La Ngữ của Giáo Hội không viết " Credo Unum Deum, mà là Credo in Unum Deum…". Túc từ trực tiếp Unum Deum được một tiền trợ từ ( préposition) " in" dẫn nhập để chỉ động từ " tin, Credo" diển tả một tác động đi vào trong, hội nhập vào trong túc từ đối tượng, tin cậy và phó thác mình cho Chúa. Ý nghĩa của Kinh Tin Kính chúng ta đọc không phải chỉ là " Tôi tin kính Một Thiên Chúa là Cha Toàn Năng…" có Chúa hay không có Chúa là Cha Toàn Năng cũng được, mà là - "Con tin cậy và phó thác vào Một Thiên Chúa là Cha Toàn Năng…", như thái độ của hai người tình thương yêu nhau, như thái độ hoàn toàn phó thác của đứa bé trong cánh tay người mẹ. Lòng tin cậy và phó thác đó bàn bạc trong suốt Phúc Âm Thánh Gioan. Ngài đã nói lên tâm hồn đó ở chương 1, ngay sau khi tuyên bố Chúa Giêsu là Thiên Chúa, là Con Thiên Chúa, là sự sống và là ánh sáng cho thế gian ở Lời Tựa( Jn 1, 1-18), lúc Ngài tường thuật lại hai môn đệ đầu tiên bỏ Thánh Gioan Tẩy Giả đi theo Chúa Giêsu: - " Hôm sau ông Gioan lại đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông. Thấy Chúa Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: Đây là Con Thiên Chúa. Hai môn đệ nghe nói, liền đi theo Chúa Giêsu. Chúa Giêsu quay lại thấy hai ông đi theo mình, thì hỏi: Các anh tìm gì vậy? Họ đáp: Thưa Thầy, Thầy ở đâu? Người bảo họ: Đến mà xem. Họ đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người ngày hôm ấy. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn" ( Jn 1, 31-34). - " Họ đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người ngày hôm đó". Vấn đề của một môn đệ, của người tín hữu Chúa Ki tô không phải chỉ là tin hay không tin có Chúa hay không có Chúa cũng được, " Con tin kính một Thiên Chúa là Cha Toàn Năng…", mà là " Con tin cậy và phó thác vào một Thiên Chúa là Cha Toàn Năng…". Nói cách khác, người tín hữu hay môn đệ Chúa Ki Tô không những tin, mà còn tiếp tục tin, luôn luôn tiếp tục niềm tin của mình rộng mở đón nhận và thông hiệp đời sống thần linh mà Chúa Giêsu rộng mở thông ban cho chúng ta, chính mạch sống thần linh, nguồn hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa, như Thánh Phêrô đã dạy chúng ta: - " Chính nhờ vinh quang và sức mạnh ấy ( của Chúa Giêsu), Thiên Chúa đã ban tặng cho chúng ta những gì rất qúy báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa…" ( 2 Pt 1, 4). Bởi vì chính Chúa Giêsu là Thiên Chúa, là sự sống và là ánh sáng của chúng ta: - " Đàng, sự thật và sự sống, chính là Thầy" ( Jn 14, 6). Hiểu được như vậy, chúng ta hiểu ý nghĩa Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng các ngài là những người gặt "…thu hoa lợi cho cuộc sống muôn đời…" ( Jn 4, 36), bởi vì nhờ nhờ các ngài, những nhân chứng, thừa tác và giảng dạy Phúc Âm, Tin Mừng Cứu Rỗi, mà bao nhiêu người sẽ được hội nhập qua các ngài vào cuộc sống hạnh phúc thần linh của Ba Ngôi Thiên Chúa. Và vì hoa quả của môn đệ Chúa Ki Tô và các Ki Tô hữu, con cái của các ngài trong đức tin, sinh ra được là đem đến cuộc sống đời đời, đời sống thần linh của Chúa Ba Ngôi cho người khác, nên nếu chúng ta không gắn liền và thông hiệp với Chúa Giêsu " là đàng, là sự thật, là sự sống ", không thể nào chúng ta có thể đem đời sống Thiên Chúa cho người khác được. Đó là ý nghĩa tại sao Chúa Giêsu dạy các môn đệ: - " Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắng liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy. Thầy là cây nho, anh em là cành…" ( Jn 15, 4-5). Một ý nghĩ sau cùng, chúng ta cần xác định để tránh ngô nhận. Trong câu " Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em", Chúa Giêsu dạy các môn đệ Người là giữa Người và các môn đệ phải có sự gắn liền, hiệp thông, " ở lại " ( menein) trong nguồn sống thần linh mà Thiên Chúa ban cho chúng ta, đời sống của Ba Ngôi Thiên Chúa. Nhưng tư tưởng Thiên Chúa Giáo khác với quan niệm hiệp thông hòa đồng của một vài luồng tư trưởng triết học, nhứt là triết học đông phương. Theo quan niệm hiệp thông hoà đồng vừa được đề cập, Bản Ngã của con người chúng ta sẽ hòa tan vào Đại Ngã của Đấng Tối Cao khi chúng ta hiệp thông với Người, như một giọt nước hòa tan trong Đại Dương. Trong quan niệm nhân vị của Thiên Chúa Giáo, mỗi người chúng ta là một nhân vị, một đứa con được Thiên Chúa sinh ra với tên tuổi, ngày sinh tháng đẻ và đặc tính của mỗi người. Mặc dầu chúng ta được Thiên Chúa ban cho chúng ta hưởng hạnh phúc bất diệt tham dự vào chính đời sống thần linh mà Người đang sống, hay " bản tính thần linh của Thiên Chúa" ( 2 Pt 1,4), chúng ta vẫn có nhân vị và cá tính một đứa con của Người. Con người của chúng ta không thể hoà lẫn tan biến trong con người của người khác, càng không thể tan biến trong " Đại Ngã" của Thiên Chúa. Chúng ta thông hiệp với Thiên Chúa, nhưng chúng ta vẫn có cá tính nhân vị của mỗi người chúng ta. Đó là những gì Chúa Giêsu nói với chúng ta: - " Thầy là cây nho, anh em là cành" ( Jn 15, 5).

 

Đoạn Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay trình bày cho chúng ta Chúa Giêsu dưới hình ảnh của người mục tử nhân lành, hy sinh cả cuộc đời mình, sống chết vì đoàn chiên. Một hình ảnh rất được ngưỡng mộ và gây nên cảm xúc trước sự hy sinh cao cả của chủ chăn đối với đoàn chiên trong xã hội nông nghiệp lúc đó, thời Chúa Giêsu, ở miền Trung Đông và Cận Đông. Nhưng hình ảnh đó có thể không gây nên một cảm xúc nào đối với xã hội kỹ nghệ hóa hiện đại của chúng ta, nhứt là xã hội hoá như các xứ Tây Âu, bởi lẽ người dân trong các nước kỹ nghệ không mấy khi quen thuộc với hình ảnh người mục tử đi trước dẫn theo sau một đoàn chiên, có chăng một đôi khi qua màn ảnh truyền hình và càng không thể hiểu được tâm tình gắng bó giữa mục tử và đoàn chiên, được kể lại trong Phúc Âm. Chúng ta không biết có thể lấy hình ảnh của đứa bé chăn trâu, dắt trâu ra đồng ăn cỏ ở Việt Nam để biểu tượng phần nào mối thân tình giữa chủ chăn và đoàn trâu trên cánh đồng cỏ ở Việt Nam không. Nhưng hình ảnh vừa kể không thể nào biểu tượng được mối cảm xúc Chúa Giêsu đề cập đến thái độ hiên ngang và đại lượng của người mục tử đối đầu với đoàn sói để bênh vực đoàn chiên mình. Cử chỉ anh hùng và đại lượng đó đã làm rung động bao nhiêu trái tim của những ai nghe Người kể lại thái độ phải có của người mục tử trước hiểm họa của đoàn chiên lúc đó: - " Ta là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh ta, nên khi thấy sói đến, anh ta liền bỏ chạy. Sói vồ lấy chiên và làm chúng tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, nên không thiết gì đến chiên" ( Jn 10, 11-13). Cử chỉ can đảm và đại lượng của người mục tử nhân lành, mà Người là biểu tượng, được Chúa Cha tán đồng và tình thương của Người xác nhận. Bởi đó Người nhận được ý muốn của Chúa Cha phải thi hành và có quyền hy sinh mạng sống mình cũng như lấy lại lúc nào tùy ý Người, vì Người là Thiên Chúa: - " Sở dĩ Chúa Cha yêu mến Ta, là vì Ta hy sinh mạng sống mình. Ta có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha Ta, mà Ta đã nhận được" ( Jn 10, 17-18). Ở phần chính của đoạn Phúc Âm, không những Chúa Giêsu là Người Mục Tử nhân lành có mối liên hệ mật thiết sống còn với đoàn chiên của mình: - " Ta biết con chiên Ta, và con chiên Ta biết Ta" ( Jn 10, 15), mà Người còn có những con chiên khác, chưa hội nhập vào đoàn chiên của Người. Cả những con chiên đó nữa, Người cũng yêu mến chúng, Người phải lo lắng cho chúng, đem chúng về dưới sự dẫn dắt thương mến của Người, để tất cả trở thành một đoàn chiên duy nhứt : - « Ta còn những con chiên khác, không thuộc về ràn nầy. Ta cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng Ta. Và chỉ có một ràn chiên và một mục tử » ( Jn 10, 16). Và đó là những gì Người đã trối lại cho các môn đệ và cho chúng ta, con cái của các ngài trong đức tin, tiếp tục hoàn thành sứ mạng của Người : - « Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em » ( Mt 28, 18-19). Trong bài giảng của Chúa Giêsu về Người là Người Mục Tử nhân lành, chúng ta có thể rút một vài tư tưởng đề suy niệm : Chúa Giêsu tự mạc khải chính Ngài là ơn cứu rổi. Mạc khải đó ở đây được tuyên bố dưới hình thức của một mệnh đề xác định (proposition affermative ) : « Ta là + Mục Tử Nhân Lành ». Mệnh đề trên, trong nguyên bản Hy Lạp cho phép chúng ta viết lại dưới hình thức của một câu văn xác quyết , có tính cách nhấn mạnh : « Mục Tử Nhân Lành + là Ta » hay « Mục Tử Nhân Lành, chính là Ta ». Viết lại câu văn như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng Chúa Giêsu là Nguồn Ơn Cứu Rổi duy nhứt . Và chúng ta có thể xác quyết Chúa Giêsu là Nguồn Ơn Cứu Rổi duy nhứt, dưới nhiều hình thức khác , bằng cách đem vào phần đầu của mệnh đề những tước hiệu mà Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta trong Phúc Âm : - « Ánh sáng thế gian, chính là Ta, - « Bánh từ trời xuống, chính là Ta, - « Đàng, sự thật và sự sống, chính là Ta, - « Cây nho, chính là Ta và các con là cành nho… », Đọc mệnh đề đảo ngược như vậy, chúng ta có được ý nghĩa Chúa Giêsu là Nguồn Ơn Cứu Rỗi duy nhứt với những tước hiệu khác xung quanh, được Người mạc khải cho chúng ta, chung quanh Người là sự sống / sự sống đời đời trong Phúc Âm Thánh Gioan , tương đương với thành ngữ « Nước Trời » hay « Nước Thiên Chúa » trong Phúc Âm của Thánh Matthêu, Marco và Luca. Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế ( mục tử nhân lành hy sinh mình để cứu chiên). Người mục tử nhân lành khác với người làm công, tắc trách và ích kỷ. Người mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình đề bênh vực chiên : - « Ta chính là Mục Tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên ... Mạng sống ta không ai lấy đi được, nhưng chính ta hy sinh mạng sống mình » ( Jn 10, 11.18). Trong bản Hy Lạp, từ ngữ « mạng sống » trong câu Phúc Âm vừa trích dẫn được các dịch giả Hy Lạp dùng một từ ngữ rất có ý nghĩa « mạng sống, psyché= linh hồn », trái lại khi nói về người mục tử dẫn chiên ra đồng cỏ, để chiên được ăn uống no đầy, được sống dồi dào, tác giả Phúc Âm dùng từ ngữ « sống, zoè » : sự sống của một động vật ( môn động vật học , zoologie). Hiểu được sự khác biệt ý nghĩa giữa hai từ ngữ Hy Lạp vừa kể, thử đọc lại câu vừa trích dẫn, chúng ta sẽ thấy thấm thía ý nghĩa của câu văn: - « Ta là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh « mạng sống = linh hồn ( psyché) » mình cho đoàn chiên… ». Và nếu chúng ta đặt câu hỏi « Ai là người mục tử nhân lành » được đề cập trong đoạn Phúc Âm ? Chính Chúa Giêsu, là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa. Như vậy chúng ta thấy được cử chỉ đại lượng cao cả của Chúa Giêsu. Người là Thiên Chúa. Mặc dầu là Ngôi Lời Nhập Thể Ngài vẫn là Thiên Chúa. Người đã không ngại hy sinh chính linh hồn ( psyché) của Người để cứu rỗi chúng ta, như người mục tử nhân lành , đã không ngại hy sinh tất cả con người của mình ( cả linh hồn mình, phần cao cả nhứt trong con người) để cứu chiên, vì thương chiên của mình. Người đã yêu thương chúng ta đến nỗi dầu phải hy sinh linh hồn, Người cũng không lùi bước. Đó là những gì Thánh Matthêu thuật lại cho chúng ta, khi Chúa Giêsu kết thúc công cuộc cứu rỗi của Người : - « Lập tức, một người trong bọn chạy lấy miếng bọt biển, thấm giấm, buộc vào đầu cây sậy, và đưa lên cho Người uống. Còn những người khác lại bảo : Khoan đã, để xem ông Elia có đến cứu hắn không ! Chúa Giêsu lại kêu lớn một tiếng, rồi trút linh hồn » ( Mt 27, 48-50). Phải chăng đây là tấm gương cho những ai có trách nhiệm chăn dắt đoàn chiên Chúa ? Thương yêu bảo vệ đoàn chiên được giao phó, bênh vực chiên cho dầu có phải hy sinh cả linh hồn mình ! Lý do người mục tử hy sinh cả linh hồn mình cho đoàn chiên là để cho chiên khỏi bị sói vồ lấy : - « Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh ta bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên » ( Jn 10, 12-13). Ngoài ra đặt Chúa Giêsu làTrung Gian Nguồn Ơn Cứu Rỗi duy nhứt , như cách dịch đảo ngữ mệnh đề kể trên, chúng ta sẽ thấy rằng lý do sâu xa hơn nữa để Chúa Giêsu hy sinh mạng sống mình cho chúng ta, là để tất cả chúng ta, đoàn chiên của Người được tham dự vào chính đời sống tình thương, mối thân tình giữa Người và Cha Người : - « Nhờ vinh quang và sức mạnh ấy ( của Chúa Giêsu), Thiên Chúa đã ban tặng cho chúng ta những gì rất qúy báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa… » ( 2 Pt 1, 4). Sự hy sinh của Chúa Giêsu được đặt đồng thời trên nền tảng tự do và vâng phục. Chúa Giêsu vâng lệnh Chúa Cha đem đến sự cứu rỗi cho nhân loại, nhưng Người có toàn quyền quyết định tự do, vô điều kiện và không ai có thể cưỡng chế Người được : - « Mạng sống của Ta, không ai có quyền lấy đi được, nhưng chính Ta hy sinh mạng sống của Ta. Ta có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy » ( Jn 10, 18). Tấm lòng đại lượng của Ngài là vậy : « Mạng sống ( = linh hồn) của Ta không ai có quyền lấy đi được, nhưng chính ta hy sinh mạng sống ( = linh hồn) của Ta ». Do đó sự sống lại của Chúa Giêsu trong Phúc Âm Thánh Gioan không phải chỉ là động tác của Chúa Cha, như trong các Phúc Âm khác, mà còn tiềm ẩn cả trong quyền lực của Người Con : « Ta có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy » . Nhưng uy quyền tự do đó, Chúa Giêsu hành xử trong sự vâng phục đối với Cha Người, bởi vì Cha Người ở trong Người và Người ở trong Cha : - « Nếu Ta không làm việc của Cha Ta, thì các ông đừng tin Ta. Còn nếu Ta làm các việc đó, thì dù các ông không tin Ta, ít ra cũng hãy tin các việc đó. Như vậy các ông sẽ biết, và ngày càng biết thêm rằng : Chúa Cha ở trong Ta, và Ta ở trong Chúa Cha » ( Jn 10, 37-38). Và như vậy qua sự liên hệ mật thiết giữa Chúa Giêsu và các con chiên Người , « Mục Tử nhân lành, chính là Ta. Ta biết chiên của Ta, và chiên của Ta biết Ta » ( Jn 10, 14), Chúa Giêsu ban cho họ được tham dự vào đời sống thần linh thông hiệp giữa Cha Người và Người, như lời tuyên bố trên của thư Thánh Phêrô. - « Phần Ta, Ta đến để cho chiên Ta được sống và được sồng dồi dào » ( Jn 10, 10).

 

Hôm thứ sau Tuần Thánh, 03.04.2015, nhân dịp theo dõi chương trình cử hành Lễ Rửa Chân cho 12 tù nhân trong trại tù Rebibbia ở Roma, người viết được chứng kiến một cảnh tượng thật cảm động: ĐTC Phanxicô qùy gối xuống rửa và hôn chân một cậu bé chưa đến ba tuổi đang bị ở tù chung với mẹ. Câu hỏi tự nhiên có lẽ ai trong chúng ta cũng đạt ra: - luật lệ dân sự ( legge civile) ở Ý, một trong những nước được coi là văn minh trên thế giới, có phải là luật lệ tôn trọng phẩm giá con người hay không? - làm sao mà một cậu bé chưa đến ba tuổi, vô tội, cũng phải " ngồi tù "cùng chung số phận với mẹ và như những người khác? Nhân bức xức với lương tâm về câu hỏi đó, người viết tìm gặp được bài viết về cùng một chủ đề tương tự của Đức Hồng Y Carlo Martini, Tổng Giám Mục giáo phận Milano. Người viết xin dựa vào đó để viết ra những dòng dưới đây, như vậy mọi người chúng ta, nhứt là những người công giáo, cùng nhau suy nghĩ cho một nước Việt Nam tốt đẹp hơn trong tương lai. Bài viết được ĐHY Carlo Martini viết ra trực tiếp để nhắn gởi đến các linh mục tuyên úy, các nữ tu và các người công giáo tự nguyện ra vào nhà tù để tiếp xúc, ủy lạo xã hội và tinh thần các tù nhân đang bị giam giữ. Ngài cho biết: - " Nhiều lần anh chị em đã phải bất lực chứng kiến cảnh bạo lực vô lý, làm hạ giá chống lại con người, nam cũng như nữ, trong nhà tù và bạo lực có hệ thống phát sinh và tái diễn chính trong bối cảnh nhà tù ". Điều ngài vừa cho biết, đó là do thư từ mà các tù nhân gởi ra cho thân nhân của mình ở bên ngoài,cũng như ai trong chúng ta cũng biết được qua các hệ thống thông tin, qua cơ hội có dịp tiếp túc với tù nhân, hay được các tù nhân kể lại cho chính ngài. Qua những sự việc đau thương, mà người tù nhân phải gánh chịu đó, ở một xứ " văn minh ", thật là điều không thể tưởng tượng được. Nhưng rất tiếc là những chuyện thực tại và xảy ra hằng ngày, ( còn nói gi đến số phận của những tù nhân ở những quốc gia bị coi là kém văn minh, như quốc gia nào đó chúng ta thừa biết ). Chúng ta thử tìm hiểu sâu xa hơn " tình trạng luật pháp dân sự đáng lý phải có " , dựa vào Lời Chúa và dựa vào các Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội. Điều chúng ta muốn được suy nghĩ " đáng lý phải có ", chúng ta có thể dựa vào " điều mới mẻ " của Phúc Âm, sứ điệp cứu độ cho tất cả mọi người, trong bất cứ hoàn cảnh nào mình đang sống, sống ngoài cuộc sống bình thường xã hội hay trong ngục tù áp bức cũng vậy. Con người được sứ điệp Phúc Âm cho biết không bao giờ là con người bị bóp ngạt, bị bất cứ hoàn cảnh hay thực tại nào nô lệ hoá, dầu cho hoàn cảnh đó là hoàn cảnh áp bức bóp nghẹt nào cũng vậy. Người công giáo, ai trong chúng ta cũng còn nhớ lời tiên tri Isaia, được Chúa Giêsu lâp lại để nói lên sứ mạng của Người trong phần khởi đầu Phúc Âm Thánh Luca: - " Thần khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa " ( Lc 4, 18-19). Đó là sứ điệp cho người tín hữu Chúa Kitô, các linh mục tuyên úy nhà tù, các nữ tu trợ tá, các người công giáo dấn thân tự nguyện giúp các phạm nhân hay bất cứ người công giáo nào, lúc nào và ở đâu cũng vậy. Hiểu như vậy, chúng ta nên hiểu các lời Phúc Âm vừa trích dẫn không phải chỉ là những lời dành riêng cho những hạng người vừa kể, mà là điều nhắc nhở cho biết rằng những ai đảm nhận công tác đươc đề cập, đừng cảm thấy mình trơ trọi một mình trong sứ mạng, mà còn biết có cả Giáo Hội cùng chung với mình, đang cùng thông hiệp với Chúa Kitô, ngay cả khi các Đấng Bản Quyền không có dịp tiếp xúc để chia xẻ công việc mình làm. Hãy cảm nhận mình luôn luôn được Chúa Kitô yêu thương và có Giáo Hội trợ lực! - Các linh mục tuyên úy đã nhận được sứ mệnh ủy thác từ ngày được truyền chức. - Các tu sĩ nam nữ, từ ngày tuyên khấn. - Các nam nữ giáo dân từ ngày nhận được Phép Rửa và Phép Thêm Sức. Giáo Hội nghĩ gì về nhà tù ? Qua những dòng vừa viết, có lẽ phần đông trong chúng ta nghĩ rằng đó là những suy tư tổng quát, còn Giáo Hội, Giáo Hội có tiếng nói, có tài liệu chính thức nào nói về " tù nhân " đang bị cầm tù ngày hôm nay hay không, ngoài ra những gì chúng ta được biết qua Thánh Kinh? Thời gian và tình thế đã thay đổi. Thánh Kinh nói đến người Do Thái bị ngược đãi, đối xử như nô lệ trong hoàn cảnh thảm đạm, bất nhân trong tay người Ai Cập, Assiri, Babylon, tù nhân của các hoàng đế Roma. Đối với những người Do Thái thời đó, Thánh Kinh lập đi lập lại lời của Thiên Chúa nói với họ. Ngày nay, trước hoàn cảnh hiện tại của chúng ta, ở các nước " văn minh hay độc tài man rợ ", có lẽ chúng ta còn muốn nghe nói một cách thực tiển hơn, Giáo Hội, Giáo Phận, Họ Đạo hay các nhóm, các phong trào công giáo có tiếng nói nào để bênh vực phẩm giá người bị cầm tù hay không? Ngay cả ở Ý quốc, dựa theo tài liệu của ĐHY Carlo Martini, mà chúng tôi viết bài nầy, có đến khoản 40.000 người đang bị cầm tù và cứ mỗi tháng có thêm trên 500 người. Đàng sau những người đang bị mất tự do nầy, còn có cả gia đình, cha mẹ, vợ hay chồng, chị em và con cái của họ đang đau khổ vì họ nữa! Và rồi chúng ta còn phải nghĩ đến những vấn đề, lắm khi thật thảm đạm, thất vọng, do trạng thái bị cầm tù nảy sinh ra, trước khi có được một giải pháp thực tiển cho tù nhân và gia đình, thân nhân. Tâm trạng thương xót, thảm đạm có; nhưng thái độ trả thù phục hận, đáng kiếp cũng không thiếu. Đó là những gì các cha tuyên úy, các nam nữ tu sĩ, cũng như giáo dân dấn thân đối với tù nhân thuật lại cho ĐHY Carlo Martini, được ngài đề cập đến trong bài viết mà chúng tôi dựa vào, để viết lên những dòng nầy. Thái độ " nhốt tù để trừng phạt " nhứt là " trừng phạt " cả bằng " tù chung thân và tử hình " không phải không đang gây ra rất nhiều tranh cải, có phải là cách sửa trị xứng đáng với phẩm giá con người không? 1 - Thánh Kinh và Tài liệu Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội. Trước hết chúng ta nên nhớ Thánh Kinh và Tài Liệu Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội soi sáng cho chúng ta phải có thái độ hành xử nào trong tình trạng tế nhị và đau khổ nầy. A) Trong Thánh Kinh chúng ta không gặp được đoạn văn lý thuyết và có hệ thống nào về bản thể con người. Thánh Kinh đề cập đến con người thực tế, trong lịch sử và bối cảnh văn hoá sống của mình. Cả các chân lý về phẩm giá, con người, về các quyền và bổn phận đều có liên hệ đến hiện trạng cá biệt và thực tế của cuộc sống. B) Trái lại, trong một vài Tài Liệu Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội, chúng ta gặp được lời huấn dạy được cấu trúc và xếp đặt mạch lạc có thứ tự về phẩm giá con người, các quyền cũng như bổn phận. Giữa các Tài Liệu trong thế kỷ 20, chúng ta có được Thông Điệp Mit Brennender Sorger ( 1937) của ĐTC Pio XI và Thông Điệp Divini Redemptoris ( 1937); Sứ Điệp Giáng Sinh năm 1942 của ĐTC Pio XII và Pacem in Terris của ĐTC Gioan XXII ( 1963). Chúng ta cũng đừng quên Hiến Chế " Gaudium et Spes " của Công Đồng Vatican II, Bản Tuyên Ngôn về quyền tự do tôn giáo " Dignitatis humanae". Chúng ta cũng còn nhớ Thông Điệp " Populorum Progressio " của ĐTC Phaolồ VI và cả Bài Thuyết Giảng cho Tổ Chức Ngoại Giao Đoàn 1978 của ngài, trong đó ĐTC nhấm mạnh đến - thái độ kính trọng vô điều kiện đối với phẩm giá con người, - chống lại vấn đề tra tấn người bị bắt giữ. ĐTC Gioan Phaolồ II đặt vấn đề và giải thích huấn dụ của ngài về con người, khởi đầu từ Thông Điệp " Redemptor Hominis " ( 1978 ): Chúa Kitô mạc khải phẩm giá con người cho con người. Và đây là một chủ đề chính trong thời đại Giáo Hoàng của ĐTC Gioan Phaolồ II. Trong nhiều bài viết và huấn từ của ngài, ngài nhắc nhở cho mọi người rằng Giáo Hội gìn giữ phẩm giá con người, là phẩm giá được Thiên Chúa nhân lành giải thoát: đây là chủ đề được đề cập đến một cách đặc biệt trong Thông Điệp " Dives in Misericordia " ( 1980), mà ĐTC chỉ cho chúng ta biết như là bản văn nền tảng cho Năm Thánh thời gian đó. Nền tảng của phẩm giá con người: đó là " giống hình ảnh Thiên Chúa ". Trong các bản văn nầy, nền tảng của phẩm giá con người, của mỗi con người là gì? Dưới nhãn quang của đức tin, đó là sự dựng nên con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Công cuộc dựng nên đó, được Sách Sáng Thế Ký thuật lại, thiết lập nên nền tảng của phẩm giá con người và là nguyên cội của các quyền và bổn phận của con người. Và đó cũng là nền tảng của Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội, nhứt là trong Hiến Chế " Gaudium et Spes ", đã khai triển rộng rãi, khi nói về phẩm giá con người: - " ...Theo quan niệm thông thường đó, thường con ngưòi tán dương mình như một mẫu mực tuyệt đối hay lại chê bai đến độ tuyệt vọng, từ đó con ngườ hoài nghi và lo lắng. Thông cảm sâu xa được những khó khăn nầy, Giáo Hội, vì được Thiên Chúa là Đấng mạc khải dạy dỗ, có thể đem lại câu giải đáp cho những khó khăn ấy, nhờ đó diễn tả được thân phận đích thực của con người, giải bày những yếu hèn, đồng thời có thể nhìn nhận xác đáng phẩm giá và thiên chức của con người. Thực vậy, Thánh Kinh dạy rằng con người đã được tạo dựng " theo hình ảnh của Thiên Chúa " và có khả năng nhận biết và yêu mến Đấng Tạo Dựng nên mình, được Người đặt làm chủ nhân mọi tạo vật trên trái đất , để cai trị và xử dụng chúng, mà ngợi khen Thiên Chúa... " ( GS, 12). Giờ đây chúng ta thử suy ngẫm lại một cách ngắn gọn lời của Thánh Kinh: - " Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta " ( Gen 1, 26). Chúng ta có thể nói rằng cách dịch chính xác hơn: - " Chúng ta hãy tạo dựng các con người giống hình ảnh chúng ta ". Theo ngôn ngữ Do Thái, Adam = con người, mà một danh từ số ít, thực tế và có ý nghĩa tổng thể. Bởi đó, ở đây, chúng ta nên đọc hiểu không phải chỉ là tạo dựng nên một con người đầu tiên và duy nhứt, mà là dựng nên loài người. Và điều đó nhấn mạnh, nói lên cho biết không phải chỉ là tạo dựng nên một con người tiên khởi, duy nhứt, con người đó chưa hề phạm tội, cần phải được kính trọng, mà là mỗi con người của loài người đều được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Và rồi Sách Sáng Thế Ký tiếp tục kể tiếp: - " ...giống như Chúng Ta , để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất...Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ. Thiên Chúa chúc lành cho họ..." ( Gen 1, 26-27). " ...giống hình ảnh Ta " có nghĩa là gì? Đó là ý nghĩa của một bức tượng, một khuôn mặt trọn hảo được phát hoạ hoặc điêu khắc. Trong ngôn từ Do Thái, lắm khi cách diễn tả, giống hình ảnh là làm sống động thể hiện một nhân vật. Một tượng điêu khắc một nhà vua, theo tinh thần đông phương, là nhắc nhớ và làm hiện diện thực sự trước mắt vị vua. Đây là một quan niệm rất sống động và tức khắc, nói lên sự hiện diện tiếp tục và tác động của nhà vua. Trong ý nghĩa đó,Sách Sáng Thế Ký nói lên cho chúng ta biết mối liên hệ thân tình giữa con người và Thiên Chúa, được thể hiện có nền tảng. Nói cách khác, con người trong Thánh Kinh khám phá ra phẩm giá của mình, giống như Thiên Chúa, và giá trị của phẩm giá đó là sự hiện diện của Thiên Chúa nơi mỗi con người, Đấng Tạo Hoá của mình. Thật đây là một biến cố có tầm mức ngoại lệ, duy nhứt trong cả công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Sự kiện con người là tạo vật duy nhứt giống như Thiên Chúa hằng sống, Đấng đang hiện diện nơi mình, là chìa khóa làm cho chúng ta hiểu được cả Thánh Kinh, là nguyên nhân trổi thượng nhứt của cả lịch sử thiên thánh. Hiểu như vậy, chúng ta còn gặp được bao nhiêu đoạn Thánh Kinh khác tường thuật lại những gì Sách Sáng Thế Ký đã đề cập đến: - " Ai đổ máu con người, thì máu nó sẽ bị con người đổ ra, vì Thiên Chúa đã làm ra con người theo hình ảnh Thiên Chúa " ( Gn 9, 6C ). - " Xin Chúa nhớ cho: Ngài đã tạo ra con bằng đất sét, rồi lại đưa con trở về cát bụi " ( Gb 10,9); ( Tb 8,8; ( Sp 7, 1; 10, 1-2). Cả Phúc Âm, Thư Thánh Phaolồ gởi các tín hữu Colossei 3, 10 cũng đã đề cập đến. Như vậy, yếu tố nền tảng để hiểu biết được phẩm giá con người là những gì được đặt trên mối liên hệ thân tình của con người với Thiên Chúa. Nhưng điều chính yếu con người, là hình ảnh của Thiên Chúa nghĩa là gì? Dĩ nhiên " hình ảnh của Thiên Chúa " không phải chỉ thu gọn vào tài năng của con người, chức vụ của con người cũng như cách hành xử của con người. Con người là hình ảnh của Thiên Chúa hiện thực trong tự bản thể của mình, trong hiện thể của mình. Kế đến Thánh Kinh còn dùng một thể thức diễn tả khác để làm sáng tỏ hơn quan niệm hình ảnh Thiên Chúa của con người: đó là khi Thánh Kinh đề cập đến sự kiện con người được kêu gọi trở nên con Thiên Chúa , có quyền - nói như thánh Gioan cho biết - được trở thành con Thiên Chúa. Quyền đó con người có được bỏi vì Thiên Chúa muốn, dựng nên , yêu thương và giờ đây được Thiên Chúa cứu thoát nơi Chúa Giêsu Kitô. Đây là một giá trị Thiên Chúa Đấng Sáng Tạo và Cứu Độ tạo dựng nên cho. Phẩm giá đó được thể hiện do sự can thiệp đặc biệt của Thiên Chúa, nguyên nhân tiên khởi và chính yếu của bản thể con người, - được hiện thực bằng cách con người tham dự vào đặc tính tối thượng của Đấng Tạo Hoá trên vạn vật; - được tỏ ra trong chính khả năng của con người liên hệ, nhận biết, đàm thoại và yêu thương của mình đối với Thiên Chúa. Nói cách khác, phẩm giá đó được phát sinh do - chính Thiên Chúa luôn luôn thương yêu con người đang sống, - đang đối thoại với Người, - đang được Thiên Chúa kêu gọi liên hệ thông hiệp với Người, - đang được Người làm cho trở nên thực sự là con cái của người, chớ không phải chỉ là ảo tưởng.mà chúng Như vậy phẩm giá con người là mối liên hệ với Thiên Chúa. Mối liên hệ đó là nền tảng phẩm giá đich thực của con người, phẩm giá tuyệt đối trổi vượt ưu tiên trên tất cả các giá trị khác. Hiểu như vậy, - không ai có thể thiết định thế nào đối với con người, - không ai có thể coi mình là chủ nhân ông của người khác, bởi lẽ không ai có thể đặt Thiên Chúa ở vị trí nào mình muốn. Nói như vậy, có thể có người cho rằng đó chỉ là cách nói đẹp đẽ trên lý thuyết, nhưng trong cuộc sống thực tế hằng ngày không phải vậy. Có thể có người thách thức cho rằng thử sống cuộc sống thực tế hằng ngày với chúng tôi, người có ý nghĩ lý tưởng như vừa kể sẽ nhận thức được rằng con người của Thánh Kinh, của Công Đồng Vatican II không có gì ám hạp với thực tế, với lịch sử hằng ngày, nhứt là với cuộc sống tù tội. Vậy thì câu hỏi cấp thiết cần phải được đặt ra. Đó là làm cách nào con người hằng ngày mà chúng ta đang gặp hiện diện trước mắt và đôi khi mà chúng ta biết được hoàn cảnh khổ tâm của họ, hoặc do chính họ, hoặc do người khác hay hoàn cảnh mà tạo ra, có thể còn là con người đang mang nơi mình vinh quang của Thiên Chúa, hình ảnh Thiên Chúa không? Báo chí, truyền thanh, truyền hình hằng ngày không phải hiếm gì đưa ra hoặt phát họa lên những con người , mà dư luận công cộng cho là - đáng ghét, - đáng khinh bỉ, - là thú vật đầy hung dữ; - và đôi khi còn bị ghi vào " sổ bìa đen của luật pháp ", trước khi bị toà án công khai xét xử và lên án tội phạm. Trong bài nói chuyện với Hội Đồng Mục Vụ Giáo Phận Milano, mà chúng tôi dựa vào để viết lên những dòng nầy, ĐHY Carlo Martini còn kể ra trường hợp của một thanh niên 24 tuổi viết cho ngài<, - " Trong lúc bước vào nhà tù, con cản thấy mình chỉ còn là một vật, choáng chỗ chật chội và làm khó chịu thêm cho người khác, cho tất cả: đối với những người đang dẫn con vào lúc đó , cũng như đối với những người nhận được có sự hiện diện của con... Kế đến vào lúc chiều tối,khi họ tiếp xúc với con, con nghe được người nầy hỏi người kia: Bao nhiêu thú vật anh đã nhận vào chuồng của anh..,?". Nói đến đây, tôi còn muốn được thêm vào, ĐHY nói tiếp, vì bị coi mình như một đồ vật, - mà chính người tù nhân đã làm mất đi lòng tín nhiệm vào những đặc tính giá trị mình có, - không còn cảm thấy mình còn có giá trị thiên thánh, - đặc tính con cái Thiên Chúa cũng bị mất đi hay cả lời kêu gọi trở thành con cái Chúa cũng không còn. Trái lại, người tù nhân sẽ cảm nhận ra mình là người thất vọng, tội nhân bị lên án, từ nay vĩnh viễn sẽ là con người chịu thua thiệt, đáng bị vất bỏ như đồ vật phế thải. Tâm tình cảm thấy mình không còn xứng đáng là con người nữa, đã trở thành hư không, khiến cho người bị cầm tù có những suy, hành đông quá độ, càng ngày càng tăng trưởng thêm bởi hoàn cảnh và tình trạng cô lập, chắc chắn sẽ đưa người tù nhân đến sự hủy diệt mình. Một thanh niên khác cũng viết cho ĐHY, - " con mới có 20 tuổi, nhưng con cảm thấy con là loài sâu bọ, thật là một điều xấu hổ . Trong đời sống con sẽ không thành đạt trở thành một người nào và con không bao giờ có khả năng làm được điều gì tốt đẹp. Con cản thấy con hèn hạ, đáng khinh bỉ...Có lẽ con nên chấm dứt cuộc đời nầy còn hơn..." . Có thể mỗi người trong chúng ta cảm thấy bản tính tiên khởi của mình thái độ khước từ, đối với những ai giết chóc, buôn bán cái chết bằng súng đạn, hảm hiếp người vô tội, cướp giựt đối với người già cả. Làm sao chúng ta có thể nhận ra được nơi những con người vừa kể hình ảnh thiên thánh của Thiên Chúa? Điều dữ đã phủ bùn đất, xáo trộn, làm rách nát hình ảnh thiên thánh đó. 2 - Thánh Kinh cho biết gì về thực trạng cuộc sống con người? a )Thánh Kinh đã cho chúng ta biết gì về thực trạng đau lòng đó? Đọc những trang Thánh Kinh, chúng ta được mời gọi hãy thức tỉnh, nhận thức được thực trạng, chớ đừng chỉ mộng tưởng cuộc sống con người toàn là những gì tích cực và dễ dãi. Thực trạng thảm đạm của con người được Thánh Kinh thuật lại là con người tội lỗi, " sai lạc đường, mất định hướng " và du côn du đảng. Thánh Kinh lập đi lập lại nhiều lần và kể cả đến chi tiết, diễn tả lòng bất nhân và bất công từ Adam cho đến vua David, từ vua Salomon cho đến vua Erode và tổng trấn Pilato. Chúng ta chỉ cần đọc Thư Thánh Phaolồ gởi cho các tín hữu Roma để bết được con người được phác hoạ ra như thế nào, không nhận biết nơi chính mình cũng như trong các tạo vật niềm vinh quang của Thiên Chúa, hình ảnh của Đấng Tạo Hoá. Bởi đó họ bị Thánh Phaolồ gọi là những con người - làm mất đi thiên tính nơi chinh mình , đầy bất công, dã thú , đầy tham lam dục tình, hư mất và lươn lẹo bất công; - đầy ghen ghét, có khuynh hướng giết người, cạnh tranh , lường lọc và độc ác; - thích bêu xấu, loan truyền điều thất thiệt, thù nghịch đối với Thiên Chúa, kiêu ngạo, khoe khoang, lanh lợi khôn khéo.Vì thế họ làm điều ác , chống báng cha mẹ, tàn nhẫn vô tâm và không biết thương xót: - " Vì thế Thiên Chúa đã để mặc họ buông theo dục vọng mà làm những điều ô uế, khiến thân thể họ ra hư hèn. Thay vì Thiên Chúa thật, họ đã theo những thần giả; họ đã tôn thờ những loài thọ tạo, thay vì chính Đấng Tạo Hóa. Chúc tụng Người đến muôn thuở muôn đời. Bởi thế, Thiên Chúa đã để họ buông theo dục tình đồi bại. Đàn bà không quan hệ theo lẽ tự nhiên, mà lại làm điều trái tự nhiên. Đàn ông cũng vậy. không quan hệ với đàn bà theo lẽ tự nhiên, mà lại đem lòng thèm muốn lẫn nhau: đàn ông bậy bạ với đàn ông. Như vậy là chuốc vào thân hình phạt xứng với sự lầm lạc của mình. Vì họ đã không thèm nhận biết Thiên Chúa, nên Người đã để mặc họ theo trí óc lệch lạc mà làm những điều bất xứng, lòng họ đầy bất chính, xấu xa, tham lam, độc ác đủ thứ; nào là ganh tỵ, khoác lác, cãi cọ, mưu mô, thâm hiểm, nào là nói hành, nói xấu, vu oan giá họa. Ho thù ghét Thiên Chúa, ngạo ngược, kiêu căng, khoác lác, giỏi làm điều ác, không vâng lời cha mẹ, không có lương tri, không giữ lời hứa, không chút tình cảm, không chút xót thương " ( Rom 1, 24-31) Đây có lẽ là bản liệt kê dài nhứt của Thánh Phaolồ về tình trạng của con người, một bản liệt kê hoàn toàn tiêu cực và thảm đạm. Nhưng nếu chúng ta đọc Sách Các Tiên Tri, nếu chúng ta đọc lại những bài thuyết giảng của Chúa Giêsu, các bản văn Tông Đồ Công Vụ, chúng ta sẽ thấy rằng không có tội ác nào của con người mà không được kể ra trong Thánh Kinh và được viết lên như là thời điểm cuối cùng, bất khả phân với hoàn cảnh tàn tạ của con người, như là điểm khởi đầu cho động tác tái lập lại của Thiên Chúa. Bởi vì Thiên Chúa " không muốn cho con người tội lỗi phải bị tiêu diệt, mà muốn cho họ hối cải và sống còn ". Bởi đó Chúa Giêsu đến nỗi đã nhận lấy bản thể của chúng ta, để trở thành hoàn toàn như chúng ta, và trở thành một vị Thượng Tế đầy lòng nhân từ: - " Bởi thế, Người đã phải nên giống anh em mình về mọi phương diện, để trở thành một vị Thượng Tế nhân từ và trung tín trong việc thờ phượng Thiên Chúa, hầu đền tội cho dân " ( Heb 2, 17). Chúa Giêsu cũng gặp phải cơn cám dỗ như chúng ta, để có thể trợ giúp được những ai bị cám dỗ: - " Vì bản thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách " ( Heb 2, 18). Và vì đó Người có thể cảm thông được tình trạng yếu hèn của chúng ta: - " Vị Thượng Tế của chúng ta phải là Đấng thông biết cảm thương những nỗi yếu hèn của chúng ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội " ( Heb 4,15). Người có thể cảm thông được một cách tương xứng đối với những ai dốt nát hoặc lầm lỡ: - " Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc, bởi vì chính Người cũng đầy yếu đuối " ( Heb 5, 2 ). b) Và trong Phúc Âm Chúa Giêsu đã nói lên rõ ràng và lập đi, lập lại nhiều lần, rằng Người đến trong thế gian không phải để vì người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi, không phải cho người khoẻ mạnh vì chỉ có người đau yếu và kẻ cần đến vị y sĩ, Người đến để tìm kiếm và cứu độ những con người bị hư mất: - " Nghe thấy như vậy, Chúa Giêsu nói: " Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần " ( Mt 9, 12). - " Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã " ( Lc 19, 10). - " Đây là điều đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận: Chúa Giêsu Kitô đến thế gian để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi " ( 1 Tim 1, 15). Qua những gì Chúa Giêsu đã phán và chúng ta vừa trích dẫn, chúng ta có thể hiểu được mục đích của Chúa Giêsu lập nên Giáo Hội. Người lập Giáo Hội của Người như người mẹ và là nơi trú ẩn cho con người tội lỗi: - " Con Người đến cũng ăn uống như ai, thì các ông lại bảo: " Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi " ( Lc 7, 34). - " Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì miếng vá mới sẽ co lại, khiến áo rách lại càng rách thêm " ( Mt 9, 16). Chúa Giêsu lập Giáo Hội của Người như người mẹ và như là nơi ẩn trú cho người tội lỗi, chúng tôi xin được lập lại. Hay nói một cách thiết thực hơn, Giáo Hội và chúng ta, mỗi con người chúng ta là thành phần của Giáo Hội, phải làm gì, hành xử thế nào và con đường nào chúng ta phải tìm ra để chữa trị phẩm giá bị thương tích của con người? Câu trả lời tổng quát trước tiên là Giáo Hội, là tất cả chúng ta, phải luôn luôn được tiếp tục huấn dạy cho thấu triệt rằng phẩm giá con người là những gì có địa vị ưu tiên và đứng trên tất cả. Nói một cách chi tiếc hơn bất cứ hình phạt nào, bất cứ một cuộc bắt giữ , xử kiện hay giam cầm nào, dầu cho đó là điều bất khả kháng, phải thi hành, đều phải thực hiện trong phương cách kính trọng phẩm giá con người, trong mọi tiến trình. Trong chiều hướng đó, tất cả mọi người đều được kêu gọi phải hành xử trong việc thi hành bổn phận của mình, dầu cho mình là thành viên của quốc hội, của hành pháp hay tư pháp hay lực lượng an ninh cảnh sát khi thi hành luật pháp cũng vậy. Người bị cầm giữ phải có quyền và cơ hội đích thực để hoán cải tinh thần mình, cả trước khi có thái độ xứng đáng đối với cuộc sống xã hội. Viễn ảnh vừa kể cho thấy không ai có quyền tước đoạt động tác chuyên cần dấn thân của Giáo Hội trong việc định hướng, hướng dẫn người bị cầm giữ, bằng những lời khuyên bảo về sai lỗi của đương sự, lòng thống hối, trạng thái tha thứ, niềm hoà giải lại với Chúa và với người thân cận. Nhưng điều quan trọng không ai được quên đi và cần phải được nhấn mạnh là người bị cầm giữ, cũng như bất cứ con người nào khác, là chủ thể được công cuộc cứu rổi nhằm đên, bởi đó cần phải được trợ giúp đương sự trên con đường cứu chuộc khỏi điều ác, như bất cứ một con người nào khác muốn được giải thoát khỏi tội lỗi của mình. 3 - Trên thực tế, tội nhân phải được trợ giúp thế nào? Làm thế nào để đến được gần, thân cận bên cạnh tội nhân và con người yếu đuối, đã lầm lỡ nhường bước trước cơn cám dỗ của Qủy Dữ và làm cho đương sự cảm nhận được mình phải hoán cải lại cuộc đời, tóm thu lại được phẩm giá hoàn hảo con cái Thiên Chúa của mình, được lòng nhân từ của Chúa là Cha giải thoát cho ? Chúng ta đừng ỷ lại mình là người công chính như người Pharisêu trong dụ ngôn ( Lc 18, 9), cho bằng cảm nhận chính mình là kẻ tội lỗi. Người viết những dòng nầy không phải là một linh mục trong toà cáo giải, nên không thể kể hết ra đây các hình thức có thể phạm tội. Người viết chỉ muốn lấy lại lời Chúa Giêsu trong Phúc Âm Thánh Gioan để mọi người chúng ta ý thức đến thân phận yếu hèn của mình: - " Ai trong các ngươi sạch tội, thì cứ lấy đá mà ném trước đi " ( Jn 8, 7 ). Với tâm trạng ý thức về tội lỗi của mình như vừa kể, chúng ta có thể dễ dàng đến bên cạnh tất cả mọi người, như là người anh em của các đương sự đó. Tình anh em vừa kể không phải tự chúng ta biến chế ra cho mình, mà là thực thể được đặt trên nền tảng của công trình Thiên Chúa sáng tạo và dựa trên sức mạnh ơn gọi của Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta phải biết cảm nhận mình ngang hàng, giống như mọi người, cùng đồng hành với các người anh em đang bị tù tội, cùng đồng hành với họ như Chúa Giêsu đã sống và ở giữa tất cả, không sợ sệt, không được bảo vệ, nhưng với tình thương, bởi vì tình thương hoàn hảo vượt thắng sợ hãi. Như vậy ơn gọi của các cha tuyên úy, các nữ tu và các Kitô hữu tự nguyện là một ơn gọi với lòng nhân từ hiện diện giữa các người bị giam giữ, giữa các nhân viên quân đội canh gát, giữa các viên chức nhà tù, là những con người đang sống trong những giây phút khó khăn và cứng rắn. Làm sao chúng ta có thể làm sống động lại phẩm giá con người, nhứt là của những người bị lên án, giam giữ, bỏ tù? Khi một con người đang đau khổ, chúng ta không thể dựa vào lý luận nạn nhân vô tội hay tội phạm: nguời bị kết án, giam giữ, bị cầm tù, luôn luôn là con người đáng được thương hại. Chúng ta cần đến bên cạnh con người đó, thông cảm hiểu biết anh ta và nâng đỡ anh bằng lời nói, động tác và lòng thành thật chia xẻ đau khổ anh đang gánh chịu. Đó là bổn phận của mỗi người tín hữu Chúa Kitô phải chăm lo, săn sóc. Với dụ ngôn người Samaritano nhân lành, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta phải trở nên người thân cận với người đang đau khổ, nửa sống nửa chết, mất hết cả nhân tính, đang nằm giữa đường đến Gerico ( Lc 10, 29-37). Và Người đã nói cho chúng ta biết phải làm gì. Nỗi đau khổ của con người thật đa diện, nhưng điều làm cho con người điêu đứng ngất ngư hơn hết là tình trong bị bỏ rơi một mình. Con người chịu đau khổ kinh khủng, khi cảm thấy mình đơn độc. Trong tài liệu của buổi nói chuyện với Hội Đồng Mục Vụ giáo phận Milano, mà chúng tôi là dựa vào để viết bài nầy, ĐHY Carlo Martini còn cho biết nội dung của một bức thư gởi cho ngài: - " Con không còn nữa đối với bất cứ ai...Con không còn sống nữa, con không biết tại sao, cũng như như thế nào...Mọi người đều nói, nhưng không ai nghe con nữa. Con không còn giá trị gì đối với một ai. Mầy chỉ là đồ phế thải, vất đi. không có quyền lựa chọn...mầy không biết họ nhốt mầy ở đâu ". Con người tội lỗi cảm thấy mình đơn độc, không cha mẹ, không anh chị em. Từ đó anh tự xác tín rằng không có gì và không ai giúp đỡ mình hoặc bám lấy vào những gì có thể, mặc dầu không có gì làm bảo chứng, cảm thấy mình bị mọi người loại bỏ, lên án và cả đến lương tâm mình cũng nguyền rủa mình. Và đây chính là giây phút mà phép lạ có thể xảy ra, nếu có ai đó đến gần mình, như Chúa Giêsu đã nhắc nhớ chúng ta trong dụ ngôn: - " Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp ; Ta trần truồng các ngươi đã không cho ; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng" ( Mt 25, 43). Trong câu trích dẫn vừa kể từ Phúc Âm Thánh Matthêu, các nỗi bần cùn mà Chúa Giêsu liệt kê ra, nỗi bất hạnh " ngồi tù " được Người liệt kê cuối cùng trong ngày phán đoán cuối cùng của Người, điều đó cho thấy người bị " ngồi tù " là người có tinh thần đáng thương nhứt, bị loại ra bên ngoài xã hội, bị tách riêng xa khỏi người thân, không thể còn có quyền được dự phần vào cuộc sống cộng đồng trong vòng một năm, hai năm, mười năm, ba mươi năm hay chung thân ở tù, khiến cho người bị cầm tù cảm thấy mất đi chính con người của mình và hình ảnh của mình. Nỗi bần cùn to lớn nhứt là cảm thấy mình vô giá trị và không còn tình yêu thương, không còn cha mẹ và cả anh em. Và rồi nếu đó là hình phạt vĩnh viễn ( tù chung thân chẳng hạn) thì đó là hình phạt khiến cho người tù nhân bất hạnh khốn cùng và bị lên án chúc dữ. Tất cả những điều đó là những gì thực sự xảy ra trên phương diện tâm lý và tôn giáo. Hiểu như vậy, chúng ta hãy tận tâm tận lực giúp đỡ những người anh em đó để tìm lại được phẩm giá của mình, để xây dựng lại phẩm giá của mình. Chúng ta tin rằng đàng sau mặt nạ con người tù nhân đó còn có khuôn diện của con người, trong con người đó còn có hình ảnh của Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn tiếp tục là Cha của anh, mặc cho cách đối xử nhân loại của chúng ta coi anh không còn là anh em nữa! ĐTC Gioan XXIII dạy chúng ta đừng bao giờ lẫn lộn giữa sự sai lầm với con người sai lầm: - " Con người sai lầm vẫn luôn luôn và đúng hơn là một con người và vẫn tồn giữ, trong bất cứ trường hợp nào, phẩm giá con người của mình và bởi đó luôn luôn cần phải nhận biết và đối xử thế nào cho tương xứng với phẩm giá cao cả đó " ( Pacem in Terris, n. 83). Và đây là những bước đường thực tế, mà người tín hữu Chúa Kitô, các cha tuyên úy, các nam nữ tu sĩ, cũng như mọi người Kitô hữu tình nguyện và phải tình nguyện để trợ giúp người bị bắt bớ, xử án, bị bỏ tù ( có công bằng hay không là môt chuyện khác). Trước khi đề cập đến những chỉ dẫn cá biệt, chúng ta cần nhớ và cần đặt nặng vấn đề đối thoại. Chúng ta tôn trọng nhân phẩm của một con người, khi chúng ta nhận biết nơi đương sự quyền đối thoại của người đang hiện diện trước chúng ta. Đối thoại có nghĩa là nói chuyện với nhau, biết lắng nghe nhau, để cùng tìm thấy những gì trợ giúp cả hai làm sáng tỏ vấn đề đang bàn, các quan điểm tương đồng cho vấn đề đang được đề cập, cũng như về cuộc sống, con đường trên đó cùng chung nhau bước đi, các giá trị thục sự làm người thêm phong phú. Để hiểu được phương thức và tinh thần đối thoại xây dựng, theo tinh thần Kitô giá, chúng tôi thiết tưởng rằng chúng ta nên tìm hiểu sâu đậm hơn về Hiến Chế " Gaudium et Spes" của Công Đồng Vatican IIThông Điệp " Eccesiam Suam " của ĐTC Phaolồ VI. Qua đối thoại, được cùng nhau thảo luận, chúng ta có thể tìm lại được và tái chiếm hữu lại được ba giá trị quan trọng, nói lên cao độ của phẩm giá con người. Đó là - lương tâm ngay chính, - quyền tự do và - tình yêu thương. a ) Lương tâm ngay chính. Con người, không phải bằng áp đặt hay vũ lực, mà với lòng tôn kính tối thượng, có thể tìm ra được chân lý. Không phải chúng ta là những người tiên khởi làm cho hiện diện trở lại nơi tội nhân quyền của anh ta, cũng như trách cứ anh ta. Chính đó là việc làm của lương tâm anh. Trong Thánh Kinh, chúng ta cũng biết được tiên tri Natan, trước khi đối mặt đối mặt với David, vị vua tội lỗi, là vị tiên tri đã làm thức tỉnh dậy lương tâm của nhà vua. Bởi đó vị tiên tri có lời khuyên đối với cả chúng ta,đừng phán đoán, đừng lên án. Chúng ta chỉ có phận sự giúp cho người đối thoại biết lắng nghe tiếng nói lương tâm của chính mình : đây là một cuộc tỉnh tâm thiêng liêng cần đưọc đưa ra, giới thiệu cho người nghe được biết và cùng chung với anh trong thinh lặng biết lắng nghe Lời Chúa trong tinh thần tôn giáo. Bất cứ một phán đoán nào đến từ bên ngoài, đến từ ngoại nhân, nhứt là với tư cách là một lời phán đoán của kẻ có quyền lực trổi thượng, đều phải bị từ chối, nhứt là những lời phán đoán đó được thốt lên với thái độ thinh lặng bất bình, hay với cử chỉ hăm doạ, tấn công. Trái lại phán đoán từ nội tâm, của lương tâm cá nhân, đều được công nhận và chấp thuận, ít nhứt là trong một khoản thời gian ngắn nào đó, ngay cả của người bị coi là tồi tệ hơn cả loại người. Con người phải chấp nhận uy quyền của chính lương tâm mình; cả những người phản động, phi chính phủ, thù địch đối với bất cứ lề luật nào và quyền lực nào cũng vậy. Con người, mỗi con người, đều biết cúi đầu tuân phục lời phán đoán nầycủa lương tâm là thi hành một động tác của phẩm giá và trong lúc mình biết lắng nghe lại tiếng nói của lương tâm là lắng nghe tiếng Chúa. Lương tâm là nơi mà chính Chúa Giêsu huấn dạy cả những người chưa được biết Người. Chúng ta có thể gnhĩ đến lương tâm bị làm lu mờ đi, bại liệt đi. Đó là trường hợp nguy hiểm mà Chúa Giêsu đã nghiêm nghị nói lên và nói một cách đáng lo ngại: - " Đèn của thân thể là con mắt. Vậy nếu mắt anh sáng thì toàn thân anh sẽ sáng. Còn nếu mắt anh xấu, thì toàn thân anh sẽ tối. Vậy nếu ánh sáng nơi anh lại thành bóng tối, thì tối biết chừng nào ! " ( Mt 6, 23). - " Chẳng có ai đốt đền lên, rồi đặt vào chỗ khuất hoặc dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, để những ai đi vào thì nhìn thấy ánh sáng " (Như Lc 11, 33). Dù sao đi nữa thì lương tâm luân lý vẫn còn: mặc cho có bị đau yếu đi nữa. Lương tâm nầy, khi là lương tâm cá nhân đích thực, không bao giờ trái ngược lại với đức tin . Bởi đó hành động theo lương tâm và hành động theo đức tin,hay hành động ngay chính, cũng là một cách hành xử như nhau, đối với người Kitô hữu. Lời và tiếng nói của lương tâm trong con người chúng ta không thể nói lên cùng một tiếng nói. Như vậy lương tâm luân lý không bị đức tin xoá bỏ đi: đúng hơn, lương tâm luân lý nơi con người chúng ta được chiếu sáng và biến thành ánh sáng để hướng dẫn chúng ta. Như vậy, chỉ có khi nào con người được giáo huấn lương tâm lại, con người mới sống cho ra người. Một lương tâm bị bệnh hoạn cần gặp được một lương tâm lành mạnh, ngay chính, được soi sáng, xác tính và sống năng động chữa trị cho: lương tâm được chữa trị và nâng lên cao độ bằng đức tin, qua cuộc đối thoại, được thể hiện bằng lời Chúa. Thật là một mẫu gương tuyệt vời, và nếu chúng ta nhớ lại cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người thiếu phụ Samaritana ( Jn 6, 6-42), với những giai đoạn mà qua đó Chúa Giêsu đã hướng dẫn cho người thiếu phụ tự do biết nhận ra những lỗi lầm của mình, trở nên phấn khởi vì biết mình còn phẩm giá có thể đạt lại được và được trả lại cho. b)Tự do. Tự đo là giá trị thứ hai tuyệt đối cần thiết đòi hỏi cho phẩm giá con người. Chỉ trong tự do, con người mới có thể thực hiện điều tốt đẹp. Và đây là một vấn đề phức tạp và khó khăn. Làm thế nào một " tù nhân " có thể đồng thời cũng là con người tự do? Trên lý thuyết chúng ta có thể nói rằng người bị cầm giữ nên biết rằng tự do nội tâm là tự do cao cả hơn các thứ tự do khác, bởi đó anh ta cần phải cảm thấy được mình tự do ở bất cứ hoàn cảnh nào. Nhưng tự do tinh thần, do bản tính con người và chân lý Phúc Âm đòi buộc, cũng cần có những điều kiện thích hợp. Chắc chắn đó không phải là môi trường nhà tù, như những gì chúng ta biết được hiện nay, là môi trường thuận lợi để người tù nhân có thể chiếm lấy lại được ít nữa là tự do nội tâm. Nhà tù là nơi đàn áp,trả thù báo oán, tàn bạo, có ảnh hưởng to lớn, nhứt là đối với những người yếu đuối, mỏng dòn và không phải là Kitô hữu sâu đậm. Đó là phần lớn các lý do khiến cho con người khó có thể lội nguợc dòng trong các hoàn cảnh như vậy, bởi lẽ địa thế không cho phép có được một sự lựa chọn nội tâm dễ dàng, ý thức và tự do, cho dù có xác tính cá nhân và lương tâm thúc đẩy. Viết đến đây, người viết nhớ lại lời ĐTC Gioan Phaolồ II trong Thông Điệp " Dives in misericordia ": - " ...mặc dầu có nhiều chương trình xã hội vẫn tiếp tục nhắc lại cùng một lý tưởng công chính, nhưng cả kinh nghiệm cuộc sống cho thấy rằng nhiều mãnh lực tiêu cực khác đã vượt thắng lên trên tư tưởng công lý,ví dụ như hận thù, ganh ghét, ngay cả đến bạo lực hung dữ. Trong trường hợp đó, thái độ tiêu diệt kẻ thù, hạn chế tự do anh ta, hay ngay cả áp đặt anh ta phải hoàn toàn tùy thuộc, trở thành lý do nền tảng thái độ phải hành động. Điều đó ngược hẵn lại bản chất của công lý, mà tự bản tính mình, công lý có khuynh hướng thiết lập nên công bình...Việc lạm dụng dư tưởng công lý đó...chứng tỏ cho thấy động tác của con người có thể tách xa khỏi công lý biết bao nhiêu " ( n.12). Điều đó cho thấy biết bao nhiêu lần nhân danh công lý, chúng ta có thể tách xa rời khỏi công lý: " summus jus, summa injuria" ( thượng đẳng công lý, có thể gây nên thượng đẳng bất công). Câu nói vừa kể không phải là nói lên để hạ thấp giá công lý, ĐTC nói tiếp, nhưng công lý cần phải múc lấy sức lực của mình nơi tinh thần, còn có sức mạnh hơn cả công lý, bởi lẽ tinh thần ảnh hưởng đến chính trật tự công lý " ( id.). c) Tình yêu Kitô giáo. Tất cả những gì được đề cập đến đây đều được tình yêu thương nối kết và đặt chung nhau. Và hiểu như vậy, người tín hữu Chúa Kitô là đường dây liên kết hướng dẫn và là dấu chứng hữu hiệu của tình yêu Chúa Kitô và của Giáo Hội đối với mọi người. Tình yêu đó ôm ấp người bị giam giữ, gia đình của họ, các người thân của con người tù nhân, đang cảm thấy bị trừng trị đối với tình thương yêu người thân bị giam giữ của mình. Và điều đó khiến cho chúng ta hiểu được sự đau đớn, khỗ tâm của họ. Chẳng có ai vui xướng gì khi người thân của mình bị giam giữ, cầm tù. Nếu có mấy đứa trẻ bảy, tám tuổi phát hoạ ra hình ảnh người cha đang ở trên thiên đàng, thì cũng có nhiều câu trẻ từ chối không đến trường, để khỏi bị bạn bè dán cho mình nhãn hiệu là con cái của tù nhân. Tình trạng đau thương đó không phải là không có trong cộng đồng Kitô giáo và nói cho, bởi lẽ chúng ta biết cộng đồng đang cần đến tình thương yêu bất thường của chúng ta. Mỗi người chúng ta đều phải có tình thương yêu nầy đối với các anh em đang bị cầm tù, mặc dầu theo nhiều tôn giáo khác nhau, nhưng họ vẫn nghĩ đến và hy vọng vào Chúa. Trong tận đáy lòng của họ, họ vẫn có đức tin, và chúng ta người Kitô hữu được kêu gọi hãy biết giáo huấn để làm cho đức tin đó lớn mạnh, bằng cách hành xử của chúng ta, đối với họ, đối với gia đình, người thân đang đau khổ ở bên ngoài, bằng cách bước theo con đường tình thương cứu độ của Chúa Giêsu và của Giáo Hội. Bởi đó các điều khoản Giáo Luật mới đã thu gọn và giảm thiểu tình trạng lên án phạt và dứt phép thông công đối với những ai lầm lỡ ,những sa ngã, bởi lẽ mạc dầu Giáo Hội vẫn cảnh cáo những sai lầm, nhưng không để mất cơ hội để nói lên lòng yêu thương mẫu tử của mình đối với những đứa con lầm lạc. Anh em hãy đem lòng yêu thương của Giáo Hội đến với những người anh em lầm lạc, bị giam dữ, bằng đức bác ái, bằng tình thương, bằng các Phép Bí Tích Giải Tội, Mình Thánh Chúa, mà anh em cử hành cùng chung với họ, vùng với những lời đối thoại và cảm thông huynh đệ. Hỡi các cha tuyên úy, các vị tu sĩ nam, nữ, các Kitô hữu phục vụ tình nguyện, anh em hãy làm sống động tình yêu Giáo Hội Chúa Kitô trong nhà tù. Đó là tình yêu thương tin vào phẩm giá con người, vào ơn cứu rổi. Bởi vì tất cả đều là con Thiên Chúa, đều là anh em của chúng ta.

 

Đoạn Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay ( Jn 20, 19-31) thuật lại hai lần Chúa Giêsu hiện ra cho các môn đệ Người, sau ngày Người sống lại: - lần thứ nhứt ( Jn 20, 19-23), buổi chiều ngày hôm sau ngày sabat: " Vào chiều ngày hôm ấy, ngày thứ nhứt trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Chúa Giêsu đến đứng giữa và phán: " Bình an cho anh em" ( Jn 20, 19). - và lần thứ hai ( Jn 20, 24-29), tám ngày hôm sau: " Tám ngày hôm sau, các môn đệ Chúa Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Toma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Chúa Giêsu đến, đứng giữa và phán: Bình an cho anh em" ( Jn 20, 26). Cả hai lần hiện ra, Thánh Gioan đều tường thuật lại với ý nghĩa rất súc tích, không thể nào chúng ta có thể suy niệm tất cả một lần. Do đó chúng ta chỉ cùng nhau suy niệm lần hiện ra trước tiên, và hẹn nhau lại trong dịp tới, nếu Chúa muốn chúng ta còn gặp nhau, để suy niệm lời Chúa trong lần hiện ra thứ hai. Đọc lại những gì Thánh Gioan kể lại cho chúng ta trong lần hiện ra lần thứ nhứt, tư tưởng đầu tiên mà ai trong chúng ta cũng thấy được đó là Thánh Gioan muốn tường thuật lại để diễn tả sáng tỏ hơn những gì mà " người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến" " đã thấy và tin" của đoạn Phúc Âm Phục Sinh ( Jn 20, 1-9) khi Ngài cùng Thánh Phêrô được Chị Maria Magdala báo và cả hai cùng hối hả chạy đến mộ. Sau khi Chị Maria Magdala đã nhận ra được Chúa Giêsu : -" Rabboni, lạy Thầy" ( Jn 20, 16). và được Chúa Giêsu nói chuyện với Chị và bảo Chị: - " hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: Thầy lên cùng Cha Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Chúa của Thầy, cũng là Chúa của anh em" ( Jn 20, 17 ), Chị liền đi báo cho các ông: - " Bà Maria Magdala đi báo với các môn đệ: " Tôi đã thấy Chúa và bà kể lại những điều Người đã nói với bà" ( Jn 20, 18). Tin theo lời Chị Maria Magdala, các môn đệ tựu họp lại trong một ngôi nhà đóng kín, " vì sợ người Do Thái". Và lần thứ nhứt Chúa Giêsu hiện ra cho các môn đệ được Thánh Gioan kể lại trong bối cảnh vừa kể. Chúng ta có thể chia đoạn tường thuật của Phúc Âm đang được đề cập thành hai phần: - Phần thứ nhứt, Chúa Giêsu đến, đứng ở giữa và tỏ các dấu cho các môn đệ, để các vị nhận ra Người và vui mừng: - " Chiều hôm ấy là ngày thứ nhứt sau ngày sabat, nơi các môn đệ ở các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Chúa Giêsu đến đứng giữa và phán: Bình an cho anh em! Nói xong, Người cho các ông thấy tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa" (Jn 20, 19-20). - Phần thứ hai, Chúa Giêsu ủy thác sứ mạng cho các ông. Người thổi hơi Chúa Thánh Linh và trao cho các ông quyền tha giải hay cầm giữ tội lỗi: - "Người lại nói với các ông: Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã ủy thác cho Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Nói xong Người thổi hơi vào các ông và phán: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ" ( Jn 20, 21-23). Yếu tố trước tiên của bài tường thuật lần nầy, cũng như ở lần thứ hai tám ngày hôm sau, là " nơi các môn đệ ở các cửa đều đóng kín" ( Jn 20, 19), vì các ông " sợ người Do Thái"(Jn 20, 18). Yếu tố " sợ người Do Thái " luôn luôn bàng bạc trong kháp Phúc Âm , trong dịp lễ Lều, dịp Chúa Giêsu làm nhiều phép lạ chữa bệnh được nhiều người đi theo Người, cũng như sau khi Người đã chết. " ( Trong dịp lễ Lều của người do Thái, khi nghe Chúa Giêsu lên Đền Thờ), dân chúng bàn tán nhiều về Người. Kẻ thì bảo: Đó là một người tốt. Kẻ thì nói: Không, ông ta mê hoặc dân chúng. Nhưng không ai dám công khái nói về Người, vì sợ người Do Thái" ( Jn 7, 11-13). Trong dịp chúa Giêsu làm nhiều phép lạ chữa bệnh, " Tuy nhiên trong giới lãnh đạo Do Thái cũng có nhiều người tin vào Chúa Giêsu. Nhưng họ không dám xưng ra, vì sợ bị nhóm Pharisêu khai trừ ra khỏi hội đường" ( Jn 12,42), Và cả sau lúc Người đã chết, - " sau đó ông Giuse, người Arimatea, xin Phi la Tô cho phép hạ thi hài Chúa Giêsu xuống. Ông Giuse nầy là một môn đệ theo Chúa Giêsu, nhưng kín đáo, vì sợ người do Thái" ( Jn 19, 38). Trong đoạn Phúc Âm ngắn ngủi tường thuật lại Chúa Giêsu hiện ra lần thức nhứt cho các môn đệ, Thánh Gioan rất khéo léo diễn tả lại bằng các ngôn từ ngắn gọn những điều Chúa Giêsu đã hứa với các ngài trước khi chịu tử hình ( Jn 13-17), Người đã thực hiện, vì chính Người là Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế. Trước hết Người sống lại và đem bình an cho các ông: - " Chúa Giêsu đến đứng giữa và phán: Bình an cho anh em!" ( Jn 20, 19), như lời Người đã hứa với các ông, ngược lại với lối cư xử thù nghịch của thế gian: - " Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy không ban bình an, như thế gian ban bình an. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi" ( Jn 14, 27). - " Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em phải gian nan khốn khổ. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian" ( Jn 16, 33). Sự hiện diện của Chúa Giêsu đem lại vui mừng, kết thúc những ngày ảm đạm tang tóc của tử nạn: " Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa" ( Jn 20, 20). Điều đó Chúa Giêsu cũng đã tiên báo cho các ông: - " Thật, Thầy bảo thật anh em: anh em sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui. Khi sinh con, người đàn bà lo buồn vì đến giờ của mình; nhưng sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui vì một con người đã được sinh ra trong thế gian. Anh em cũng vậy, bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng, và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được" ( Jn 16, 20-22). Chúa Giêsu đến với các môn đệ là để thực hiện lời hứa Người sẽ không để các ông mồ côi. Người đang sống, đến đứng ở giữa, chúc bình an để các ông an lòng là các ông không bị bỏ rơi: " Chúa Giêsu đến đứng giữa và phán: Bình an cho anh em" (Jn 20, 19). Điều đó Chúa Giêsu đã hứa trước với các ông: - " Thầy sẽ không để anh em mồ côi, Thầy đến cùng anh em. Chẳng bao lâu nữa, thế gian không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. Ngày đó anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy ,và Thầy ở trong anh em" ( Jn 2, 19.21-22). Chúa Giêsu đến với các môn đệ, chứng tỏ cho các ông thấy Người đã sống lại không quá ba ngày sau khi chết. Người thực hiện điều Người đã tuyên bố về việc sẽ xây dựng lại đền thờ nội trong ba ngày: - " Chúa Giêsu đáp: Các ông cứ phá hủy Đền Thờ nầy đi; nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại. Nhưng Đền Thờ Chúa Giêsu muốn nói ở đây chính là thân thể Người: Vậy khi Người từ cõi chết trổi dậy, các môn đệ nhớ lại lời Người đã nói điều đó: Họ tin vào Kinh Thánh và lời Chúa Giêsu đã nói" ( Jn 19, 21-22). Như vậy vấn nạn các người Do Thái hỏi Người " Ông lấy dấu nào chứng tỏ cho chúng tôi là ông có quyền làm như thế" ( Jn 2, 18) đã được Chúa Giêsu Phục Sinh trả lời. e ) Và cử chỉ thổi hơi Chúa Thánh Thần ở phần hai của đoạn tường thuật cũng là động tác thực hiện những gì Người đã hứa với các ông vào dịp kết thúc lễ Lều của người Do Thái: -" Hôm ấy là ngày bế mạc tuần lễ Lều, và là ngày long trọng nhứt. Chúa Giêsu đứng trong Đền Thờ và lớn tiếng phán rằng: ai khát hãy đến với Ta, ai tin vào Ta hãy đến mà uống! Như Thánh Kinh đã nói: Từ lòng Người sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống: Chúa Giêsu muốn nói về Chúa Thánh Thần mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận. Thật thế, bây giờ họ chưa nhận được Chúa Thánh Thần, vì Chúa Giêsu chưa được tôn vinh" ( Jn 7, 37-39). f ) Còn nữa, Chúa Giêsu Phục Sinh đến với các môn đệ, cho các ông xem tay và cạnh sườn, để chứng thật Người là Đấng đã bị đóng đinh, đã chết và giờ đây sống lại đang đứng giữa các ông: - " Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn: Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa" ( Jn 20, 20). Người đã hy sinh, chịu khổ hình và chịu chết để đền tội cứu chúng ta. Chúa Giêsu đã chết, bị người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn, chính Thánh Gioan đứng ra làm chứng: - máu chảy ra tượng trưng cho cái chết hy sinh để cứu rổi: - " Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì máu cùng nước chảy ra. Người xem thấy việc nầy đã làm chứng và chứng của người ấy xác thực, và người ấy biết mình nói sự thật để cho anh em nữa cũng tin" ( Jn 19, 34-36). - nước tượng trưng cho Chúa Thánh Thần, là sự sống của nhân loại: - " Như Thánh Kinh đã nói: Từ lòng Người sẽ tuông chảy những dòng nước hằng sống: Chúa Giêsu muốn nói về Chúa Thánh Thần mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận…" (Jn 7, 39). - tay Người tượng trưng cho quyền lực của tình thương hướng dẫn sứ mạng mạc khải và ban sự sống cho nhân loại: - " Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người" ( Jn 3, 35). - " Ta ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay Ta. Cha Ta, Đấng đã ban chúng cho Ta, thì lớn hơn cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Cha Ta. Ta và Cha Ta là một" ( Jn 10, 28-29). - " Chúa Giêsu biết rằng: Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa" ( Jn 13, 3). g) Một ý nghĩa sâu xa khác, chúng ta có thể tìm thấy trong câu Chúa Giêsu ủy thác sứ mạng của Người cho các môn đệ. Bản dịch Thánh Kinh Việt Ngữ chúng tôi có trong tay, NXB Thành Phố HCM, 1998, trang 2040 dịch câu vừa kể như sau: - " Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em" ( Jn 20, 21), là lối dịch không chính xác. Dịch giả đã dùng cùng một động từ " sai"( Cha đã sai Thầy,…Thầy sai anh em) để dịch hai động từ khác nhau từ bản chính Hy Lạp. Đó là hai động từ " apostello"" pempo" được nguyên bản đặt như sau: - " Như Chúa Cha đã ủy thác ( apostello) cho Thầy, thì Thầy cũng sai ( pempo) anh em". Dịch câu văn với hai động từ khác nghĩa như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng sứ mạng mà các tông đồ và cả chúng ta , con cái của các ngài trong đức tin, lãnh nhận qua Chúa Giêsu, cũng chính là sứ mạng nguyên thủy mà Chúa Cha ủy thác cho Chúa Giêsu. Đó là sứ mạng truyền giáo của mỗi người trong chúng ta, chúng ta lãnh nhận nơi Chúa Giêsu ngày chúng ta nhận Phép Rửa : - " Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữa những điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế " ( Mt 28, 19-20). Chúa Cha không " sai " Chúa Giêsu đi thực hiện sứ mạng cứu rổi, mà "ủy thác" (apostello, apostolus) cho Chúa Giêsu. Cũng vậy, qua Chúa Giêsu, chúng ta cũng được Chúa Cha " ủy thác" cho sứ mạng để đem Tin Mừng cứu rổi cho anh em chúng ta. Chúa Cha không giao cho chúng ta như người ngoại cuộc, người làm công làm việc tắc trách, được việc hay không được việc cũng được, mà là " ủy thác" thân tính và tin tưởng như việc của một người cha giao cho một đứa con. Gương của Chúa Giêsu nhiệt thành hy sinh không lùi bước, ngay cả trước cái chết, để thực hiện sứ mạng, nói lên cử chỉ phải có của một Người được một Người Thân " ủy thác" cho. Chúng ta cũng vậy, chúng ta cũng phải đáp ứng sứ mạng cứu rổi anh em được " ủy thác" ( apostello), bằng cách hành xử với tất cả tấm lòng nhiệt thành của một tông đồ ( apostolus). h) Động tác " thổi hơi"( emphuo) để ban Chúa Thánh Thần cho các môn đệ cũng mang ý nghĩa chúng ta cần suy niệm: " Nói xong Người thổi hơi vào các ông và phán: Anh em hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần…" ( Jn 20, 22). Động tác " thổi hơi" vừa kể là động tác của Thiên Chúa, khi Ngài " thổi hơi để ban sự sống cho tạo vật: - " Bấy giờ Yahvé là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mủi, và con người trở nên sinh vật" ( Gn 2, 7). - " …Nhưng anh không bận tâm về số phận phải chết hay về cuộc đời vắn vỏi của anh, mà lại đi bon chen với thợ vàng thợ bạc, đi bắt chước thợ đồng, vênh vang vì nắn ra đồ mã. Con tim của anh là tro bụi, hy vọng của anh hèn hơn đất, cuộc đời của anh tệ hơn bùn. Chỉ vì anh không biết Đấng đã nặn ra anh, Đấng thổi vào anh một linh hồn sống động, phú cho anh một làn sinh khí" ( Sap 15, 9-11). - " Người lại bảo. Ngươi hãy truyền sấm gọi Thần Khí. Chúa Yahvé phán thế nầy: Từ bốn phương trời, hởi Thần Khí, hãy thổi vào những người đã chết nầy cho chúng được hồi sinh. Tôi tuyên sấm như Người đã truyền cho tôi. Thần Khí liền nhập vào những người đã chết; họ được hồi sinh và đứng thẳng lên: Đó là cả một đạo quân rộng lớn, đông vô số kể" ( Ez 37, 9-19). Như vậy qua động tác " thổi hơi " vào các môn đệ để ban Chúa Thánh Thần, nguồn mạch sự sống cho các vị, Chúa Giêsu đã gợi lại cử chỉ của Thiên Chúa từ sách Sáng Thế Ký, từ sách Khôn Ngoan và từ sách các Tiên Tri. Hành động đó là hành động của Thiên Chúa để sáng tạo vũ trụ, để ký kết giao ước với dân Do Thái và ban Chúa Thánh Linh để " ủy thác"" sai đi " thực hiện sứ mạng cứu rổi trong giao ước mới: - " Và tới tuần rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy và phán: Chén nầy là chén giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em" ( Lc 22, 20). Qua những tư tưởng chúng ta vừa suy niệm, Chúa Giêsu thực hiện tất cả những gì đã được đề cập đến trong Thánh Kinh, không những gì Người đã hứa với các môn đệ trong Phúc Âm, mà cả những gì Thiên Chúa hành động trong Cựu Ước để sáng tạo vũ trụ và ký giao ước với dân được Người chọn, dân Do Thái. Vậy Chúa Giêsu là ai? Chúa Giêsu là Ngôi Lời, Đấng mà Thánh Gioan đã long trọng tuyên bố ngay ở những dòng đầu của Phúc Âm Ngài, ở Lời Tựa: - " Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, Ngôi Lời vẫn ở nơi Thiên Chúa, Và Ngôi Lời là Thiên Chúa… Ngôi Lời là sự sống của mọi tạo vật, Và sự sống là ánh sáng cho nhân loại… Còn những ai đón nhận Người, tức là những ai tin vào danh Người, Người cho họ quyền được trở nên con Thiên Chúa. Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta" ( Jn 1, 1.3.12.14). Như vậy, tường thuật lại biến cố Chúa Giêsu hiện ra lần đầu tiên sau khi Ngài sống lại, một lần nữa Thánh Gioan cắt nghĩa rõ ràng hơn những gì Ngài đã viết ở Lời Tựa và những gì Ngài đã quả quyết một cách ngắn gọn " Ông đã thấy và tin " ở Phúc Âm Phục Sinh ( Jn 20, 8).

 

Thánh Gioan, trong bài Phúc Âm Thánh Lễ Mừng Chúa Phục Sinh hôm nay gợi ý cho chúng ta suy niệm cử chỉ của ba nhân vật chính được tường thuật: Maria Magdala, Thánh Phêrô và Thánh Gioan, người môn đệ được Chúa yêu thương. Bài Phúc Âm thuật lại cho chúng ta hai lần quan sát từ bên ngoài, - của bà Maria Magdala: "( bà Maria Magdala) thấy ( blepein) tảng đá đã lăn khỏi mộ" ( Jn 20, 1), - của Thánh Gioan, người môn đệ Chúa Chúa Giêsu thương mến: " Ông Phêrô và môn đệ kia cùng chạy ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chay mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào" ( Jn 20, 3-5). và hai lần nhìn thấy bên trong mộ, - của Thánh Phêrô: " Ông Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vãi để đó và khăn che đầu Chúa Giêsu" ( Jn 20, 6-7), - và của Thánh Gioan, người môn đệ Chúa Giêsu thương mến: " Bấy giờ môn đệ kia, người đã đến mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và tin" ( Jn 20, 8). a) Thánh Gioan khởi đầu bài Phúc Âm, thuật lại cho chúng ta việc chị Maria Magdala, thương mến Chúa Giêsu, từ sáng sớm đã đi đến viếng mộ: - " Sáng ngày thứ nhứt trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Magdala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simon Phêrô và người môn đệ Chúa Giêsu thương mến. Bà nói: Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu" ( Jn 20, 1- 2). Có lẽ yếu tố để tả cảnh lúc đó, " lúc trời còn tối ", được Thánh Gioan dùng để nói lên ngụ ý đức tin của chị Maria Magdala, mà cũng là của tất cả các môn đệ lúc đó, đang còn chìm đắm trong tối tăm mù mịt, trước cái chết của Chúa Giêsu và họ chưa hiểu gì về ý nghĩa cuộc sống lại của Người. Do đó khi thấy ngôi mộ trống, Maria Magdala hốt hoảng chạy về báo cho các môn đệ: - "Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi không biết họ để Người ở đâu" ( Jn 20, 2). Cử chỉ và phản ứng của Maria Magdala là phản ứng tự nhiên của mọi người chúng ta. Đứng trước cái chết của người thân, chúng ta cảm thấy bùi ngùi thương mến và đầu óc chúng ta đang sống lại với bao nhiêu kỷ niệm. Con người chúng ta "đóng kín" lại cho tình thương và kỷ niệm đối với người thân đã khuất. Tâm hồn chúng ta khó mở rộng cho thế giới xung quanh, cho những lời khuyên, ngay cả những lời khuyên ý nghĩa nhứt, chân thành nhứt. Trạng thái hốt hoảng của Maria Magdala nói lên điều đó, chị không còn đầu óc đâu để suy nghĩ. Đức tin của chị đang còn chìm đắm trong mù mịt của " lúc trời còn tối ". Ngay cả chính lúc Chúa Giêsu hiện ra trước mặt chị, chị cũng không nhận ra: - " Nói xong chị quay lại và thấy Chúa Giêsu đang đứng đó, nhưng chị không biết là Chúa Giêsu Maria tưởng là người làm vườn, liền nói: Thưa ông nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về" ( Jn 20, 14-15). Và chị được hân hoan giải thoát khi nghe tiếng Chúa Giêsu gọi chị: - " Maria!"( Jn 20, 15). Chị quay lại và nói bằng tiếng Do Thái: "Rabboni, Lạy Thầy!" ( Jn 20, 16). Nhưng chị là người được Thánh Gregorio Cả gọi là "nữ môn đệ tiên khởi của các môn đệ" ( Apostola Apostolorum), bởi vì chính sự hoảng hốt của chị đã làm cho các môn đệ tỉnh dậy, không phải chỉ tỉnh ngủ, mà là đánh thức đức tin của các Vị để tìm hiểu sự Phục Sinh của Chúa Giêsu, khởi đầu bằng cuộc chạy đua giữa thánh Phêrô và Thánh Gioan, chạy đến mộ: - " Ông Phêrô và môn đệ kia liền chạy ra mộ. Cả hai cùng chạy " ( Jn 20, 3). b) Cái nhìn quan sát ( blepein) thứ hai từ bên ngoài, là cái nhìn của Thánh Gioan, người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến. Thánh Gioan " thấy" ( blepein) từ bên ngoài, cũng giống như Maria Magdala " thấy" ( blepein). Trong cả hai trường hợp, Thánh Gioan đều dùng động từ " thấy" ( blepein) như nhau. Cũng như Chị Maria Magdala " thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ", nhưng chị chưa hiểu được ý nghĩa nên mới hốt hoảng , chạy về báo cho các môn đệ, thánh Gioan cũng " cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào " . Thánh Gioan cũng chưa hiểu được ý nghĩa, nên việc tường thuật cái nhìn của Ngài cũng kể như chấm dứt ở đó. Phúc Âm không thêm bớt một chữ nào nữa. Hay có lẽ cái "nhìn" của Thánh Gioan cho Ngài khám phá thêm một cái gì đó, hơn cái nhìn của Chị Maria Magdala, nhưng nội dung chưa được xác định, nên Ngài im lặng.Phải chăng một câu hỏi được Thánh Gioan đặt ra, điều mà Chị Maria Magdala không nhận được trong cơn hốt hoảng, đó là nếu người ta muốn ăn cắp xác đem đi, thì sao lại phải tháo băng vải liệm, truớc khi chở xác đi. Dù sao đi nữa, thì nghi vấn vẫn chưa được câu giải đáp rỏ ràng, nên việc tường thuật của Thánh Gioan dừng lại ở đó. c) Lần nhìn thấy đầu tiên bên trong mộ là cái nhìn của Thánh Phêrô: - " Ông Simon Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Chúa Giêsu. Khăn nầy không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi" ( Jn 20, 6-7). Thánh Phêrô theo sau cũng đến nơi . Ngài vào thẳng trong mộ, " thấy " những băng vải…và khăn che đầu. Lần nầy thi động từ " thấy" của Thánh Phêrô được tác giả Phúc Âm dùng động từ " theoreo": nhìn với cập mắt quan sát và " đặt giả thuyết" ( theoria). Nội dung của " cái nhìn quan sát và đặt giả thuyết"( theoreo), thấy " những băng vải để ở đó, và khăn che đầu…cuốn lại, xếp riêng ra một nơi ", có một cái gì đó đáng đặt câu hỏi hơn và rỏ ràng hơn là cái nhìn( blepein) từ bên ngoài. Nhưng rồi Thánh Phêrô cũng không đi đến kết luận được. Và Phúc Âm tường thuật lại việc chạy đến mộ của Thánh Phêrô, vào thẳng trong mộ và với cái nhìn quan sát và đặt giả thuyết cũng dừng lại ở đó. Chúng ta có cảm tưởng là Thánh Phêrô cũng chưa có tầm hiểu biết xâu xa gì hơn là những cố gắng bên ngoài mà Thánh Gioan thuật lại cho chúng ta. Có lẽ đứng trước Mầu Nhiệm Phục Sinh quá lớn lao, tâm hồn Thánh Phêrô còn bị mây mù cản trở để có thể xuyên qua và thấu suốt. Mây mù đó phải chăng là do mặc cảm tội lỗi của ba lần chối Chúa Giêsu trong những ngày trước đó, cản trở Ngài nhận ra tín hiệu tình thương của Chúa Phục Sinh, mà chỉ có những ai sống thân tình với Chúa mới cảm nhận được. Mặc dầu thấy mồ trống và băng vải dưới đất, khăn che đầu cuốn lại, xếp riêng ra một nơi, nhưng Ngài không hiểu và không tin. Và cũng có lẽ không phải chỉ có Thánh Phêrô có tâm hồn " lúc trời còn đang tối ", khi Chúa Giêsu sống lại, mà hầu hết các môn đệ khác cũng vậy. Bóng tối đó chỉ tan biến đi, một thời gian sau, khi Chúa Giêsu từ giả các Ngài, thổi hơi và ban Chúa Thánh Linh cho các Ngài: - " Người lại nói với các ông: Bình an cho anh em. Như Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Nói xong Người thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị giữ"( Jn 20, 21-23). d) Và sau cùng là cái nhìn của nguời môn đệ được Chúa Giêsu thương mến, của Thánh Gioan. Sau khi đã đợi và nhường bước cho Thánh Phêrô vào mộ trước, để kính trọng địa vị của người đứng đầu các môn đệ và là Vị Chủ Chăn Tối Cao của toàn thể Giáo Hội sau nầy vào trước, Thánh Gioan cũng vào trong mộ và thấy những gì Phêrô đã thấy: - " Bấy giờ người môn đệ kia, người đã tới mộ trước cũng đi vào" ( Jn 20, 8). Nhưng cái nhìn của Thánh Gioan là cái nhìn trực giác. Ngài nhìn và hiểu ngay. Cái nhìn của Thánh Gioan là cái nhìn của tình thương và chắc chắn đã nhận được tình thương của Chúa Giêsu đáp lại, qua những tín hiệu "khăn vải để ở đó khăn che đầu cuốn lại, xếp riêng ra một nơi ". Thánh Gioan đã nhận được tín hiệu tình thương đó trong buổi tiệc ly cuối cùng, khi Ngài dựa đầu vào ngực Chúa Giêsu: - " Trong số các môn đệ, có một người được Chúa Giêsu thương mến. Ông đang dùng bữa, tựa đầu vào ngực Chúa Giêsu" ( Jn 13, 23). Và từ cái nhìn trực giác đó đi đến đức tin, dường như không có khoản cách. Bởi đó Thánh Gioan diễn tả hai tác động đơn sơ chỉ bằng một câu văn ngắn ngủi với hai động từ: - " Ông đã thấy và tin"( Jn 20, 8b). Qua bốn trường hợp để tìm đến Chúa Phục Sinh hôm nay, tiến trình tìm đến đức tin, là tiến trình tự nhiên của con người tìm đến Thiên Chúa. Có những lúc chúng ta sống trong thương tiếc, đau buồn gần như " đóng kín" như trường hợp của Chị Maria Magdala; - với cái nhìn từ bên ngoài để đặt nghi vấn và tìm hiểu như trường hợp cái nhìn từ ngoài của Thánh Gioan; - với cái nhìn cố gắng tìm hiểu nhưng tâm hồn bị mây mù che phủ thành ra cuộc sống đức tin quờ quạng như cái nhìn và đặt giả thuyết của Thánh Phêrô - và với cái nhìn trực giác thấu hiểu ngay nội dung của niềm tin, như cái nhìn " đã thấy và tin" của Thánh Gioan. Thánh Gioan có được cái nhìn trực giác mầu nhiệm Phục Sinh, vì cái nhìn tìm đức tin của Ngài không phải chỉ có lý trí để suy luận, mà là tiến trình tìm Chúa với cả tình thương. Tìm Chúa, tin vào Chúa và ủy thác mình trong cánh tay Chúa, như đứa trẻ hoàn toàn vững chắc trong cánh tay người mẹ. Đó cũng là ý nghĩa của Kinh Tin Kính bằng La Ngữ: " Credo in Unum Deum, Patrem Onnipotentem" ( Con tin kính " vào" một Thiên Chúa là Cha Toàn Năng).

 

1 - Bài Phúc Âm Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay thuật lại cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu khá dài, nên chắc chắn chúng ta không thể suy niệm được cả bài cùng một lúc, bởi vậy chúng ta nên dừng lại suy niệm phần đầu ( Mc 14, 1-11). Những phần còn lại, hy vọng chúng ta sẽ có dịp suy niệm khi chu kỳ Phụng Vụ trở lại, nếu Chúa còn thương để chúng ta sống tiếp tục phục vụ Người và phục vụ anh em. Phần đầu của đoạn Phúc Âm chúng ta suy niệm hôm nay, được nhập đề bằng hai câu để xác định thời điểm và bối cảnh: - “ Hai ngày trước Lễ Vượt Qua và Bánh Không Men, các thượng tế và các kinh sư tìm cách dùng mưu bắt Chúa Giêsu và giết đi; vì họ nói: Đừng làm vào chính ngày Lễ, kẻo dân chúng náo động” (Mc 14, 1-2). Dự tính bắt giết Chúa Giêsu của các thượng tế và các kinh sư không phải là điều mới lạ, đối với ai đọc Phúc Âm Thánh Marco, bởi lẽ Ngài đã nhiều lần đề cập đến trước đó: - “ Ra khỏi đó, nhóm Pharisêu lập tức bàn tán với phe Erode, để tìm cách giết Chúa Giêsu” (Mc 3, 6), - “ Các thượng tế và các kinh sư thấy vậy, thì tìm cách giết Chúa Giêsu. Quả thế, họ sợ Người, vì cả đám đông đều rất thán phục về lời giảng dạy của Người ” ( Mc 11, 18). - “ Họ tìm cách bắt Chúa Giêsu, nhưng lại sợ dân chúng; quả vậy, họ thừa hiều Người đã nhắm vào họ, mà kể dụ ngôn ấy” ( dụ ngôn các tá điền sát nhân làm vườn nho) ( Mc 15, 13-14). 2 - Với những lần đề cập đến âm mưu vừa kể, Thánh Marco cho chúng ta biết ý định giết Chúa Giêsu trong Phúa Âm hôm nay không phải là ý nghĩ thoáng qua, bốt đồng, quyết định bất thình lình, mà là dự tính đã có từ lâu và chín mùi, đạt đến tột đỉnh hôm nay với quyết định hành động của họ. Đọc những tư tưởng vừa kể trong Phúc Âm, chúng ta có cảm tưởng rằng các biến cố liên tục tiếp xảy ra là do quyết định của con người, “ các thượng tế và các kinh sư tìm cách dùng mưu bắt Chúa Giêsu và giết đi…” ( Mc 14, 1). Nhưng đọc các diển biến theo tiến trình của Phúc Âm Thánh Marco, chúng ta thấy rõ các biến cố tiếp diển theo đường hướng ý muốn của Thiên Chúa sắp đặt, như chính Chúa Giêsu xác nhận trong vườn Getsèmani: - “ Abba, Cha ơi! Cha làm được hết mọi sự, xin cất chén nầy xa con. Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn ” ( Mc 14, 36). Động từ “ nộp” ( Hy Lap, paradidomi) mà đôi khi chúng ta cũng dịch là “ phản bội ”, nói lên động tác của Giuda đối với Chúa Giêsu là một động từ quan trọng, được Thánh Marco lập lại hai lần trong hai câu 11-12: - “ Giuda Iscariot, một người trong Nhóm Mười Hai, đi gặp các thượng tế để “ nộp” Người cho họ. Nghe hắn nói, họ rất mừng và hứa cho tiền. Giuda liền tìm cách “ nộp” Người sao cho tiện ” ( Mc 14, 11-12). Và rồi động từ “ nộp ” hay “ phản bội ” ( paradidomi ) còn được Thánh Marco lập lại nhiều lần khác trong đoạn Phúc Âm tường thuật lại cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu hôm nay: - “ Ngay lúc đó, khi Người còn đang nói, thì Giuda, một người trong Nhóm Mười Hai xuất hiện…Kẻ “ nộp” Chúa Giêsu đã cho họ một ám hiệu, hắn dặn rằng: Tôi hôn ai, thì chính là người đó. Các ông bắt lấy và điệu đi cho cẩn thận” ( Mc 14, 41-44), - “ Vừa tảng sáng, các thượng tế đã bàn với các kỳ mục và kinh sư, tức là toàn thể Thượng Hội Đồng: sau đó họ trói Chúa Giêsu và giải “ nộp” cho Pilato” ( Mc 15, 1), - “ Vì muốn chiều lòng đám đông, Pilato phóng thích tên Baraba, truyền đánh đòn Chúa Giêsu, rồi trao “ nộp” Người cho họ đóng đinh vào thập giá ” ( Mc 15, 15). Theo dõi các diễn biến được động từ “ nộp” hay “ phản bội ” diễn tả, chúng ta có cảm tưởng là tiến trình cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu là do trách nhiệm của con người quyết định, của tất cả những nhóm người hiện diện gần gũi Người lúc đó: - khởi đầu là nhóm người sát gần thân hữu với Người, Nhóm Mười Hai, trong đó có Giuda, - kế đến là nhóm thượng tế, kỳ mục và kinh sư Do Thái, - và sau cùng là vị thống đốc Roma, Pilato, không những có toàn quyền chính trị quyết định mà còn tượng trưng cho uy quyền đế quốc Roma đối với mọi người dân thuộc hạ, dĩ nhiên Chúa Giêsu, công dân Do Thái cũng là một trong những người thuộc hạ đó. Yếu tố nhân loại có trách nhiệm đối với cuộc Thương Khó và Tử nạn của Chúa Giêsu, càng được nổi bật hơn nữa, chính Chúa Giêsu cho biết trước hành động “ nộp ” hay “ phản bội ” của Giuda: - “ Đang khi dùng bữa, Người nói: Thầy bảo thật anh em, có người trong anh em sẽ “ nộp” Thầy, mà lại là người đang cùng ăn với Thầy” ( Mc 14, 18). - “ Đã hẳn Con Người ra đi như lời đã chép về Người. Nhưng khốn cho kẻ nào “ nộp” Con Người: thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn ” ( Mc 14, 21). Biết trước những gì sẽ xảy ra cho mình như vậy, nhưng Chúa Giêsu không lẩn tránh. Điều đó cho thấy Người chấp nhận chương trình an bài theo thánh ý Chúa Cha. Các diễn biến trong cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu là do ý muốn của Chúa Cha, không những chúng ta biết được qua lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong vườn Getsèmani, chúng ta đã trích dẫn ở trên, mà còn được thể hiện trong các câu nói của Chúa Giêsu, được diễn tả bằng động từ “ nộp ” ở thể thụ động thần học ( passif théologique). -“ Con Người “ sẽ bị nộp” vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại ” ( Mc 9, 31), - “ Nầy ta lên Giêrusalem và Con Người “ sẽ bị nộp” cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án và xử tử Ngưòi và nộp Người cho dân ngoại ” ( Mc 10, 33). Dùng động từ ỏ “ thể thụ động thần học ” là cách dùng động từ của người Do Thái để chỉ chính Thiên Chúa là chủ thể tác động. Nhưng dùng ở thể thụ động như vậy tránh được gọi tên Chúa, vì tôn kính Ngài. Đặt hai yếu tố nhân loại và thiên thánh vừa kể chung nhau trong biến cố Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu, chúng ta thấy được tự do và trách nhiệm của con người được lồng vào trong đồ án cao cả rộng lớn hơn của Thiên Chúa. Nói như vậy, chúng ta không có ý giảm thiểu trách nhiệm và tầm quan trọng của việc con người không chấp nhận Chúa Giêsu, nhưng như vậy chúng ta thấy được quyền năng của chương trình cứu rỗi của Chúa Cha và tình thương yêu bao la của Người đối với con người chúng ta. Để cứu rỗi đem lại hạnh phúc cho chúng ta, Thiên Chúa không lùi bước bất cứ trước một trở lực nào, dù phải hay sinh, “ nộp” chính Con Một của mình. 3 – Nhưng ý nghĩa của phần Phúc Âm chúng ta suy niệm hôm nay không phải chỉ có vậy. Giữa đồ án bắt giết Chúa Giêsu của các thượng tế và kỳ mục ( Mc 14, 1-2) và biến cố Giuda “ nộp ” hay “ phản bội ” Chúa Giêsu ( Mc 10-11), Thánh Marco tường thuật lại bửa cơm tại nhà ông Simon, trong đó một thiếu phụ đến xức dầu thơm cho Chúa Giêsu thật rất ý nghĩa ( Mc 14, 3-9). Cách hành xử của người thiếu phụ “ làm cho vài người bực bội ”, vì họ không hiểu ý nghĩa việc làm của nàng đối với Chúa Giêsu: - “ Có vài người bực tức, nói với nhau: Phí dầu thơm như vậy để làm gi?...” ( Mc 14, 4). Thánh Marco không xác định rõ “ vài người bực tức ” đó là ai. - Có thể họ là “ các thượng tế và các kinh sư tìm mưu bắt Chúa Giêsu và giết đi ” ( Mc 14, 1), dựa trên Lề Luật Moisen và truyền thống Do Thái Giáo dạy đừng phí phạm của cải, tốt hơn để “ dầu đó có thể đem bán, lấy trên ba trăm quan tiền, mà bố thí cho người nghèo” ( Mc 14, 5). - “ Vài người bực tức ” đó cũng có thể là những người trong Nhóm Mười Hai, trong đó có cả Giuda”, được Thánh Marco đề cập đến ở câu 10: - “ Giuda Iscariot, một trong Nhóm Mười Hai, đi gặp các thượng tế để nộp Người cho họ ” ( Mc 14, 10). Nhưng “ vài người bực tức ” đó là ai chăng nữa, họ không hiểu được ý nghĩa kính trọng và yêu thương của người thiếu phụ đối với Chúa Giêsu. Họ dựa vào Luật Lệ Moisen, giáo lý Do Thái ( các thượng tế và các kinh sư), hay vào những gì Chúa Giêsu đã dạy họ ( trường hợp các môn đệ), dựa trên nguyên tắc để phán đoán việc đang xảy ra. Câu trả lời của Chúa Giêsu cho thấy cách phán đoán của họ có lý một phần, “ phải thương giúp người nghèo ”, như Lề Luật và tôn giáo dạy: - “ Người nghèo thì lúc nào các ông chẳng có bên cạnh, các ông muốn làm phúc cho họ bao giờ chẳng được ” ( Mc 14, 7). Nhưng đồng thời Chúa Giêsu cũng bênh vực người thiếu phụ, vì cử chỉ của nàng là cử chỉ thương yêu một người nghèo đến độ cùng cực, sẽ bị đàn áp, khỗ hạnh và chết bị lột cả y phục trên thập giá mấy ngày sắp tới: - “ Điều gì làm được thì nàng đã làm: nàng đã lấy dầu thơm ướp xác Ta, để chuẩn bị ngày mai táng ” ( Mc 14, 8). Tiên đoán trước của Tử Nạn của mình, Chúa Giêsu cũng cho chúng ta thấy được tâm hồn người thiếu phụ. Nàng trọng kính và thương yêu Chúa Giêsu. Và với tình thương đó, lòng nhạy cảm trực giác của người phụ nữ và tình thương yêu dành cho Chúa Giêsu, nàng cảm nhận được những gì sắp xảy ra cho và vì đó nàng chăm sóc cho Người, bằng những gì có thể làm được, “điều gì làm được thì nàng đã làm”. Trước cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu, các cách lý luận theo nguyên tắc Lề Luật và đạo giáo, các suy tư diễn dịch “ thần học ”, của các thượng tế và các kinh sư cũng như có lẽ của cả các môn đệ lúc đó, đều không đạt được mục đích. Thật vậy, những gì xảy ra trên thập giá nói lên tình thương hãi hà của Thiên Chúa, vượt quá mọi khả năng suy luận và tiền liệu của con người, con người chỉ có thể cảm nhận được bằng tiếng nói của tình thương. Tiếng nói tình thương của Thiên Chúa, qua đồ án của Người và cả trong tâm hồn chúng ta, Người nói với hết mọi người. Nhưng kẻ dễ nhận ra tiếng nói của Người là người sống với Người bằng tình thương hơn là bằng “ Lề Luật và suy luận diễn dịch thần học ”. Với tình thương, người thiếu phụ cảm nhận xác đáng những gì sắp xảy ra cho Chúa Giêsu, được chính Người xác nhận: - “ …nàng đã lấy dầu thơm ướp xác Ta, để chuẩn bị ngày mai táng ” ( Mc 14, 8). Cử chỉ của người thiếu phụ là mẫu gương cho người tín hữu Chúa Ki Tô, lấy việc phục vụ Chúa làm định điểm. Phục vụ Chúa không phải là cách hành xử tương phản lại việc phục vụ người nghèo, bởi vì “ người nghèo” sẽ bị chết trần truồng trên thập giá trong những ngày sắp đến, cần được ưu tiên săn sóc, đối với nàng chính là Chúa Giêsu đang hiện diện trước mặt nàng, bởi đó “điều gì có thể làm được, thì nàng đã làm ”, nàng lo lắng chăm sóc Chúa Giêsu. Phục vụ người nghèo, bác ái đặt ngưòi nghèo là người phải được chăm sóc ưu tiên, cũng được nói lên cho chúng ta bằng gương hy sinh cao cả của Chúa Giêsu trong thư gởi Philippe chúng ta được đọc ở bài đọc thứ hai. Chúa Giêsu hy sinh để cứu con người khỏi hoàn cảnh tội lỗi khốn cùng của mình, trở về hưởng hạnh phúc viên mãn và bất diệt với Thiên Chúa. Đó là cùng đích mà Chúa Giêsu hy sinh tất cả để chúng ta đạt được. Tình thương trước cảnh nô lệ tội lỗi, bất hạnh của nhân loại, khiến Chúa Giêsu hy sinh “trút bỏ vinh quang ” địa vị Thiên Chúa của mình, sống như người phàm, trở thành nô lệ, để cứu chúng ta khỏi nô lệ và diệt vong của sự chết: - “ Chúa Ki Tô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trức bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế ” ( Phil 2, 6-7 ).