Văn Nghệ >> Văn Nghệ

PrintPrint This TopicEmail To Friend
NHỮNG CON CÁ CỦA SOLZHENITSYN VÀ BÀ CÔNG CHÚA NGƯỜI THÁI
LÂM VŨ

Trong Lời Tựa của cuốn “Quần đảo tù cải tạo", văn hào Nga Solzhenitsyn kể: "Năm 1949, tôi và một số bạn hữu đọc được một mẩu tin đáng để ý trong một tạp chí khoa học: Thiên Nhiên. Mẩu tin in chữ thật nhỏ thuật lại, trong một chuyến khai quật bên dòng sông Kolyma, người ta đã khám phá ra tảng băng nằm sâu dưới đất, vốn cũng là một dòng nước chảy bình thường - tảng băng này chứa đựng hàng ngàn những sinh vật của thời tiền sử xa xôi. Dù là cá hay những loai bò sát, chúng được bảo trì nguyên vẹn tươi tốt. Bài viết cũng cho biết, nhưng người hiện diện đã không chần chờ lâu, đập ngay tảng băng bao bọc ra để nhai ngấu nghiếu các sinh vật tiền sử, một cách khoái lạc".

Những "người hiện diện" đó là ai mà lại mê ăn cá sống đến độ không cần biết đến sự quý giá của nhưng sinh vật tiền sử may mắn được bảo vệ qua hàng trăm, ngàn thế kỷ đó?” Ở một đoạn sau của Lời Tựa, Solzhenitsyn cho biết "những người hiện diện" đó là ai: "Chính chúng tôi đã từng là những người đó. Chúng tôi đã từng thuộc về những "bộ tộc" có một không hai trên trái đất này, những "bộ tộc" duy nhất có thể ăn tươi nuốt sống những sinh vật thời tiền sử (còn được thiên nhiên bảo trì nguyên vẹn) một cách khoái lạc".

Không cần phải giải thích thêm nhiều nữa, chắc độc giả đều biết nhưng "bộ tộc" đó chính là những đoàn người tù cải tạo trong dưỡi chế độ xã hội chủ nghĩa của thiên đường cộng sản Xô Viết.

Điều mà văn hào Solzhenitsyn không nói (hoặc có thể không biết) là vài chục năm sau, ở một xứ sở khác, nhưng cũng là thiên đường của "công nông vô sản", đó là Việt Nam, cũng đã xuất hiện nhưng bộ tộc hoàn toàn "tương cận" với nhưng bộ tộc có một không hai của ông. Theo như vô số nhưng tường trình của những "chứng nhân sống (sót)", những người "đồng chủng" của văn hào Solzhenitsyn ở Việt Nam cũng rất thường hay thưởng thức nhưng món ăn rất kỳ lạ chỉ khác là ở mặt "địa dư", vì ở Việt Nam thì khó có thể có nhưng tảng băng ngầm đướt đất.

Nhưng được biết họ thuộc những bộ lạc người Kinh “ăn thịt người” , họ ăn cả nhiều bộ tộc Tây nguyên của mình, chỉ khác ở đây là họ không "ăn tươi nuốt sống" bắng xương bằng thịt những sắc tộc anh em tiền sử xa xưa này (xin xem những khảo cứu về nhân chủng học và khaœo cổ về các bộ tộc Tây nguyên VN này), nhưng hành động của họ cũng chẳng khác gì "ăn tươi nuốt sống", mà có phần thâm độc hơn. Họ áp dụng những chiến thuật diệt chủng, đồng hóa, cho từng đợt hàng ngàn người Kinh lên vùng ở Thượng du gọi là làm rẫy (phá rừng, đốn cây), trồng trọt (cà phê) khai khẩn đất hoang, nhưng thật ra chỉ là lừa đảo. Ngoài những hành động chiếm cứ trắng trợn và thô bạo, họ còn có những kế hoach tinh vi hơn bằøng cách cho vay mượn cắt cổ. Khi thổ dân trả không đúng kỳ hạn, vườn tược, đất đai của họ bị tước đoạt. Sau khi chiếm đất rồi, họ cho phụ nữ ở đây thi hành những biện pháp y khoa chống sinh sản. Ngoài những người chịu không nổi những chuyện áp bức và cấm cản tín ngưỡng phải trốn đi, định cư ở xứ ngoài, họ còn đày một số những người khác đi sống ở lây lất ỡ những trại cùi dọc theo các quốc lộ hẻo lánh trên vùng sơn cước (xin xem Paris Match “C’est moi qu’on assasine” của ký giả Michel Tauriac). *

Vào thập niên 60 thế kỷ 20, cá nhân tôi cũng thuộc vào một bộ tộc người Việt khá kỳ lạ! Đó là "bộ tộc" của những du học sinh từ miền Nam Việt Nam, tức là Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi cũng luôn luôn thèm khát những thực phẩm có hơi hướm của quê hương. Vào thời đó, trước khi có hàng riệu người Việt tỵ nạn lập ra những cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới, ở Âu Châu dễ chỉ có Paris là có những của báu đó. Khi có cơ hội, những thành viên của bộ tộc du sinh này lũ lượt kéo về Paris để hưởng chút hương vị quê nhà. Ở đây, ngoài nước mắm, khô mực, hột vịt lộn, rau răm v.v. chúng tôi còn có thể bắt gặp những hình ảnh của một Việt Nam xa xưa - mà ngày đó ngay trên quê hương đất nước cũng hiếm thấy. Đó là những ông cụ nói "tiếng Tây ba rọi", kiểu "ơ a vếch pơ tí ca na đờ đăng" thay vì tiếng Việt là "trứng vịt lộn" (!) ... hay cả những cảnh các bà bóng ... lên đồng. Kẻ may mắn còn có thể gặp gỡ vị Hoàng Đế cuối cùng của Việt Nam hay nhà bác học kiêm Bộ trưởng Giao dục của chính phủ Trần Trọng Kim của thời tiền cách mạng mùa Thu v.v. Cá nhân tôi nhờ một duyên cơ đặc biệt, được gặp và nghe bà công Chúa Thái kể cho nghe chuyện ngày xưa... (Phải nói ngay, "Thái" đây không phải là nước Thái Lan, mà là xứ Thái miền thượng du nước Việt).

Câu chuyện của bà Công Chúa Thái, tóm lược, bắt đầu vào mùa Thu năm 1945, lúc bà còn là một nữ sinh ở Hà Nội ... Tôi vẫn còn nhớ tấm ảnh chụp cô nữ sinh ngồi trên chiếc thuyền buồm nho nhỏ trên hồ Tây thơ mộng của một Hà Nội hời bình yên nào xa tắp. Anh của bà lúc đó là Quan Châu - tức là "vua" - của nước Thái, đồng thời là một trong những lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cách mạng bùng nổ. Bà theo chân người anh, cũng là "vua" nước Thái, tham gia vào cuộc chiến quốc cộng, đã bắt đầu vào thời 45. (Có lẽ cần phải nói rõ, người Thái ở Việt Nam có quan niệm rất khác về chính họ, trong tương quan với nước Việt và người Việt. Có vẻ, người Thái ở Việt Nam không phân biệt họ với người Việt, như người Kinh hay làm. Cũng thế, họ coi nước Thái của họ như một phần "bất khả phân" của nước Việt. Khi dùng từ "yêu nước", thì họ nghĩ chung cả nước Việt Nam. Ít nhất, tôi nhận thấy điều này ở bà Công Chúa Thái). Bà kể: "Lúc đó, bọn họ gọi cô là con xẩm, vì cô hay thắt bím ... Cô còn bé lắm, nên các anh lớn chỉ cho làm những công tác nhẹ ...". Nhưng những công tác nhẹ đó đôi khi cũng nguy hiểm lắm ..." "Một hôm, cô đang đứng bán thịt trâu ngoài chợ, bọn chúng kéo tới, không nói không rằng vung mã tấu ra chém. May mà cô nấp được sau nửa con trâu đang treo nên chúng không chém trúng. Sau đó cô chạy thoát giữa chợ đông"...

Bà công chúa cũng cho biết tại sao "bọn chúng" (tức là phe Việt Minh) lại thù bà đặc biệt và được lệnh giết bà cho kỳ được. "Thủa đó ta có một cửa hàng cắt tóc ở phố X ... cô được công tác dụ bọn Việt Minh đến đó dể cắt tóc. Có cơ hội, các cán bộ Việt Minh sẽ bị giết ở đó, xác được mang đi chôn ở ...".

Điểm đặc biệt của bà Công Chúa Thái là thái độ hồn nhiên và ngây thơ hiển hiện cả trong lúc bà hồi tưởng lại chuyện ngày xưa (bà kể nhiều chuyện bà bị ám sát ra sao, may mắn thoát chết như thế nào) mà không có vương một chút oán thù.

Năm 54, khi Việt Minh chiến thắng ở miền Bắc, Quan Châu nước Thái - tức ông anh bà đưa được nhiều người Thái sang tỵ nạn cộng sản ở Pháp. Dĩ nhiên bà cũng đi theo, và từ đó bà sống với và hoàn toàn cho "đám dân của bà", vì theo bà đó là bổn phận đương nhiên của một người Công Chúa. Bà tự không cho phép mình lập gia đình riêng, khi gia đình lớn của bà, dân tộc Thái, đang lưu vong nơi xứ người.

Thế nhưng, lúc tôi gặp bà thì bà lại đang có chồng, và người chồng của bà chính là người bác họ xa mà tôi đến thăm và may mắn được gặp bà. Bà giải thích sự việc oái oăm này cũng bằng một vẻ "ngây thơ" rất đặc biệt, khó gặp được nơi người Kinh: "Ông ấy (chỉ người bác họ của tôi vẫn ngồi im lặng tuyệt đối trong suốt buổi) nhất định lấy cô, nhưng cô không chịu vì đã có lời thề. Sau cùng cô chịu kết hôn nhưng giao hẹn không ăn nằm chung. Ông ấy đồng ý, nên cô mới lấy".

Không hiểu là tôi có tưởng tưởng không, nhưng tôi thấy ông bác già cố gắng giấu - nhưng không được - một tâm sự thật u uẩn! Lần gặp gỡ - duy nhất - đó, ông đã gần 80, còn bà Công Chúa Thái chỉ trên dưới 60 (tôi tính ra vì năm cách mạng 45 thi bà mới 15, 16 mà). Nhưng bà vẫn giữ dáng dấp e thẹn của một cô con gái Hà Nội thủa nào xa xưa, thêm vào đó là nét kiêu kỳ của một bà công chúa.Cộng cả lại, là một vẻ đẹp hấp dẫn và kiêu sa, mà tôi chỉ thấy ở một người thứ hai khác. Đó là ở bà Aung Sang Suu Kyi, lãnh tụ của phe dân chủ nước Miến Điện, người đang bị nhà chế độ độc tài Rangoon cầm tù. Cả hai bà đều hy sinh cả hạnh phúc riêng tư cho mối tình lớn hơn, là tình yêu đất nước và dân tộc. (Dù đang ở tù, bà Suu Kyi đã quyết định

không đi sang nước Anh thăm người chồng sắp chết vì bệnh ung thư, biết rằng nếu rời nuớc đi thì chính quyền độc tài Miến Điện sẽ không bao giờ cho bà trở về đất nước nữa cả).

Mỗi khi nghĩ đến hai "mỹ nhân" của mình, tôi vẫn nhủ thầm: dù sao bà Suu Kyi cũng hạnh phúc hơn bà Công Chúa Thái, bởi vì dù ở trong tù, bà Suu Kyi vẫn là ở trên quê hương mình.

LÂM VŨ

* Ý Kiến Độc Giả