Tham Khảo >> Sống Đạo

PrintPrint This TopicEmail To Friend
III-C19 - ÔNG CHẠNH LÒNG THƯƠNG, CHẠY RA ÔM CỔ VÀ HÔN LẤY HÔN ĐỂ
NGUYỄN HỌC TẬP
SUY NIỆM PHÚC ÂM ( III C 19); ( 14.03.2010); ( Lc 15, 1-3. 11-32) CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY, NĂM C


1 - Bối cảnh của lời tố cáo và ba dụ ngôn.

Hai câu khởi đầu của doạn Phúc Âm hôm nay là hai câu nói quan trọng, cho chúng ta thấy được bối cảnh của ba dụ ngôn được Chúa Giêsu liên tiếp kể ra để trả lời cho các người Pharisêu và các kinh sư đến nghe và chất vấn, tố cáo Người:

- " Các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Chúa Giêsu để nghe Người giảng. Những người Pharisêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: " Ông nầy đón tiếp những người tội lỗi và ăn uống với chúng " ( Lc 15, 1-2).

Đặt vào bối cảnh hai hạng người, " người thu thuế và những kẻ tội lỗi đến với Chúa Giêsu để nghe Người giảng dạy" ( Lc 15, 1), các người Pharisêu và các kinh sư " xầm xì với nhau " ( Lc 15, 2).

Điều đó khiến cho các người Pharisêu và các kinh sư tố cáo Chúa Giêsu:
- " Ông nầy đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng " ( Lc 15, 3).
Luân lý Do Thái cũng tiên liệu việc tha thứ cho những kẻ xấu, người lỗi phạm, nhưng với điều kiện là những người đó biết tỏ lòng sám hối ( cfr Lc 19, 1-18),như trong câu chuyện ông Giaccheo cho thấy việc sám hối công cộng của một tội phạm là gì.
Ở đây các người Pharisêu và các kinh sư " xầm xì " trách cứ Chúa Giêsu " đón tiếp và ăn uống với chúng " chứng tỏ là những người đó chưa chính thức công khai sám hối, ăn năn trước mặt công chúng.

Khởi đầu từ những lời " xầm xì " trách cứ đó, Chúa Giêsu kể ra liên tiếp ba dụ ngôn của lòng thương xót, được cấu trúc một cách tương tự như nhau: con chiên và đồng bạc bị thất lạc ( Lc 15, 4-7; 8-10) và đứa con đã mất đi, tìm lại được ( Lc 15, 11-32).

Trước khi đề cập đến dụ ngôn đứa con bị mất đi ( hay dụ ngôn người cha nhân lành ), chúng ta thử nhìn thoáng qua cách diễn tả hai dụ ngôn được đề cập trước đó.
Phương thức đơn sơ và hữu hiệu mà Chúa Giêsu tương giao với con người, mạc khải cho chúng ta hiểu được mầu nhiệm của Chúa Cha, đó là cách giảng dạy bằng dụ ngôn.

Trong dụ ngôn, đời sống được diễn tả bằng chính đời sống. Đó là những gì xảy ra hằng ngày rong cuộc sống con người, ai cũng có kinh nghiệm nơi bản thân mình, cũng như thấy được trong cuộc sống của người thân cận.

Dụ ngôn là cách diễn tả có sức mạnh chinh phục bằng kinh nghiệm mà ai trong chúng ta cũng có được trong cuộc sống, nhưng được cấu trúc, tạo được sức mạnh khiến cho người nghe phải thay đổi hay xác định cách sống của mình: người nghe được thúc đẩy phải thay đổi hiện trạng bất toàn mà mình đang có hay cách xác tín hơn nữa những điều tốt đẹp mình đang làm và cố gắng tiếp tục thực hiện tốt đẹp hơn nữa.

Lắng nghe dụ ngôn có nghĩa là để cho mình tự hỏi về tự do của mình, quyết định chọn lựa trong nội tâm và thực hiện ra trong cách hành xử của mình.
Hiểu như vậy, dụ ngôn không phải chỉ là những gì thuộc về quan niệm, mà là thúc đẩy con người xác tín, lựa chọn và hành động.
Người nghe không đặt tầm quan trọng ai là nhân vật hay những nhân vật trong dụ ngôn, điều làm cho người nghe chú ý là cách hành xử, phản ứng của họ. Yếu tố đó tạo được mối tương quan giữa Chúa Giêsu và những ai nghe Người, họ là ai, thuộc giai cấp, thứ bậc nào, điều đó không quan trọng.

a) Dụ ngôn đồng bạc bị đánh mất.

Dụ ngôn đồng bạc bị đánh mất có một vài đặc điểm cá biệt. Chúng ta thử đi vào ngôi nhà đó, một ngôi nhà tầm thường của người xứ Palestina thời đó. Đó là một ngôn nhà không có cửa sồ, chỉ có ánh sáng duy nhứt xuyên qua cửa cái chiếu vào.
Bởi đó ánh sáng trong nhà là ánh sáng mờ mờ. Điều đó khiến cho người thiếu phụ phải " thắp đèn lên, quét nhà, moi móc, tìm cho kỳ được " ( Lc 15, 8). Nền nhà thường bằng đá, không bằng phẳng mấy, bởi đó nàng phải quét nhà, nhờ được chổi lôi ra khỏi chỗ lồi lỏm mới mong thấy và tìm lại được.
Người thiếu phụ tìm lại được và chạy đi kêu bạn bè đến để ăn mừng. Động từ " tìm được ", được dùng đến ba lần trong dụ ngôn tường thuật, cho thấy nàng phải bao nhiêu vất vả ra công mới tìm lại được, của cải qúy báu mà mình đã mất: " ...rồi quyét nhà, moi móc tìm cho kỳ được. Tìm được rồi..., vì tôi đã tìm được " ( Lc 15, 8-9).

b) Dụ ngôn con chiên bị thất lạc

Dụ ngôn con chiên bị thất lạc được diễn tả gần như tương tợ với những gì được Phúc Âm Thánh Matthêu đề cập đến ( cfr. Mt 18, 1-14), cũng như những gì vừa được đề cập đến trong dụ ngôn đồng bạc bị đánh mất, nói lên lòng qúi mến, lo lắng, thương yêu của chủ nhân.
Nhưng điều nhấn mạnh khác biệt là việc tìm gặp lại được con chiên bị thất lạc được diễn tả một cách mạch lạc hơn và nhiều công sức hơn. Bởi lẽ chính người mục tử có ý định, quyết tìm cho được con chiên:
- " ...,để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất " ( Lc 15, 4).
Và rổi khi đã tìm được chiên, ông vác chiên lên vai, quàng quanh cổ để đem chiên về:
- " Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ, vác lên vai " ( Lc 15, 5).

Vác con chiên lên vai, quàng quanh cổ, dĩ nhiên là phải chịu gánh nặng mới làm được, nhưng người mục tử không ngần ngại. Có lẽ con chiên bị thương, dơ bẫn và tung tăng vùng vẫy, nhưng người mục tử không màn đến những hy sinh phải chịu, miễn là đem được chiên về. Và về đến nhà, ông kêu gọi bạn bè để mở tiệc ăn mừng, cho thấy ông qúy trong chiên, không phải chỉ vì giá trị thương mãi của chiên, mà còn bao nhiêu tâm tình ông dành cho con chiên của mình, coi chiên như là những gì thân thiết với con người của mình:
- " Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại và nói: " Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó " ( Lc 15, 6).
Trong cả hai dụ ngôn, đồng bạc bị đánh mất và con chiên bị thất lạc, niềm vui của hai người chủ thật không gì có thể kềm chế được:
- " Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đánh mất " ( Lc 15, 9),
- " Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó " ( Lc 15, 6).

Diễn tả lại niềm vui không thể kềm hảm được đó của người thiếu phụ đối với nén bạc, cũng như của người mục tử trong dụ ngôn con chiên bị thất lạc, Chúa Giêsu có ý muốn nói với chúng ta niềm vui bao la của Thiên Chúa, khi có thể tha thứ lỗi lầm cho con người, lỗi lầm của mỗi người chúng ta.

Thái độ của Chúa Giêsu, bị các người Pharisêu và các kinh sư trách cứ không có gì là quá đáng, bởi lẽ Người hành xử không khác gì thái độ của người mục tử đi theo vết con chiên bị thất lạc, để tìm cho bằng được. Chúa Giêsu cũng vậy, Người đi theo để tìm cho được " bọn thu thuế và quân tội lỗi ", ngồi đồng bàn với họ, để " tìm cho bằng được " họ:
- " Ông nầy đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng " ( Lc 15, 2 ).
Cả chúng ta cũng vậy, chúng ta được mời " xin hãy chung vui với tôi ", tham dự phần vui mừng với Chúa, khi một người anh em tội lỗi củ chúng ta được Chúa " tìm lại được ", trở về với Người.

Và cử chỉ của người thiếu phụ với đồng bạc bị đánh mất, cũng như cử chỉ của người mục tử đi theo dấu vết con chiên bị thất lạc, để " tìm cho kỳ được con chiên bị thất lạc ", cũng là cử chỉ chúng ta được mời gọi hành xử như vậy đối với anh em lỗi lầm của chúng ta, lạc hướng, không tìm ra được con đường để trở về với Chúa.

Đối với chúng ta cũng vậy, chúng ta cũng được kêu gọi hãy biết tha thứ, như hàng vạn lần Chúa đã tha thứ những lỗi lầm của chúng ta - mỗi khi Người chia xẻ những âu lo, Người trả lời cho những lời nguyện xin, Người đón nhận chúng ta trở lại khi chúng ta phạm tội.
Mỗi người chúng ta, người tín hữu Chúa Ki Tô, được mời gọi hãy nói cho anh em biết niềm vui chúng ta đã gặp lại được trong Chúa, cho những anh em đang án binh bất động, không còn biết phải bước đi nữa.
Đó là những gì Giáo Hội, qua chúng ta có thể đem Phúc Âm đến cho mọi người ở mọi thời đại, ở mọi khoản thời gian trong ngày, để nói với mọi người, không trừ bát cứ ai, rằng lòng ao ước cao cả của Thiên Chúa là sự cứu rổi cho tất cả mọi người.

c) Thái độ thinh lặng bất thường của người cha.

Trong dụ ngôn thứ ba ( Lc 15, 11-32), Thánh Luca cho chúng ta thấy các thái độ tự do của con người gặp gỡ nhau như thế nào.
Con người có thể tự do bỏ ra đi, tự do đi vào con đường hư hỏng. Cũng vậy Thiên Chúa luôn luôn tự do ban ơn giúp cho con người trở lại với Người, sửa đổi con người, ôm ấp lại con người vào tình yêu thương của Người.

Dụ ngôn thứ ba trong Phúc Âm Thánh Luca là một tác phẩm tuyết tác của Phúc Âm, dụ ngôn người cha nhân hậu. Đây là dụ ngôn được biết nhiều nhứt và yêu chuộng nhứt trong Phúc Âm, ngay cả những ai không còn nhớ đến Phúc Âm nữa, cũng còn giữ được trong tâm hồn mình hình ảnh của người cha đang chờ đợi đứa con trở về và ôm lấy cậu vào lòng.

Đoạn Phúc Âm rất súc tích và người đọc bị lôi cuốn theo diễn biến của câu chuyện qua những câu văn ngắn ngủi, biến chuyển mau lẹ và hữu hiệu.
Dụ ngôn trình bày cho chúng ta một gia đình gồm một người cha và hai đứa con: một gia đình giàu có.
Câu con bé hơn xin chia gia tài và ra đi, tìm vận hội mới, thành đạt mới cho chính mình. Cậu ta muốn có một cuộc sống khác với cuộc sống lập đi, lập lại hằng ngày trong gia đình, chắc hẵn những ai đang nghe Chúa Giêsu lúc đó nghĩ như vậy.

Cho đến đây, không có gì là xấu xa, đáng trách, ít nhứt là theo lý luận thông thường sơ đẳng, chúng ta có thể hiểu như vậy.

Đó là điều thông thường, xảy ra thời Chúa Giêsu, người con của một gia tài lớn lao thường có khuynh hướng tách riêng ra, di cư đi nơi khác, tự lập. Và trong trường hợp vừa kể, người con đó có quyền được xin chia gia tài cho mình, tính bằng tiền mặt, bỡi lẽ phải đem đi, thường là trị giá một phần ba gia sản:
- " Trái lại người đàn ông ấy phải nhìn nhận đứa con của người vợ không được yêu là trưởng nam mà chi cho nó hai phần sản nghiệp: nó là hoa quả đầu tiên đời trai tráng của người ấy, nên nó được quyền trưởng nam " ( Dt 21, 17).
Đối với ngưòi con trưởng còn lại phần gia tài trong gia đình, phần cón lại là đất đai.

Và chúng ta cũng cần biết lúc đó là lúc đó ở Palestina đang xảy ra nạn thất mùa, thiếu thốn, nên nhiều người Do Thái di dân vào những thánh phố thương mại lớn của Hy Lạp, bên Tiểu Á và bên Ai Cập.
Như vậy đó là điều tự nhiên mà cậu con thứ ra đi và cũng tự nhiên theo lời đòi hỏi của cậu:
- " Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng " ( Lc 15, 11).
Một cách nói lịch sự, đòi hỏi một cách lễ phép, gần như lời cầu xin.
Trái lại, người nghe lúc đó, cũng như người đọc như chúng ta đều lấy làm lạ thái độ im lặng của người cha. Ông cứ để mọi chuyện xảy ra như tiến trình tự nhiên, không có ý kiến. Chia gia sản và để cho ccậu con ra đi, không một lời nói. Không phản đối, không khuyên cậu con hãy biết vâng lời, trách móc thái độ vô ơn, không có tình yêu thương cha con, anh em cũng không.
Thái độ thinh lặng của người cha nói lên ông hoàn toàn kính trọng lòng ước muốn tự do của đứa con.

Có lẽ cách sống thông thường của chúng ta là người cha phải tỏ ra thái độ chống lại các dự án không có gì bảo đảm chắc chắn của cậu con. Bởi lẽ nếu bị cha chống đối, cậu con theo luật bị bắt buộc phải ở lại.

Trái lại cậu con được tư do ra đi, ra đi với tiền bạc tài sản của mình, không làm mất lòng ai: không làm phật lòng mọi người, cũng không bất tuân lề Luật Chúa.
Ngoài ra còn một sự thinh lặng khó hiẻu khác, đó là sự thinh lặng của người anh cả, anh cũng không cản cậu ta ra đi: có lẽ anh hài lòng ở lại một mình, hưởng trọn phần gia tài còn lại, là người thừa hưởng gia sản duy nhứt.

Như vậy, bối cảnh đầu tiên của câu chuyện dụ ngôn nên hiểu theo ý nghĩa đơn sơ, thông thường, chớ đừng nghĩ thêm những gì sẽ xảy ra sắp đến. Mọi đông tác điều được diễn ra trong tiến trình tự nhiên, không chống đối, không có gì ẩn ý: người con thứ tự do ra đi, tạo cho mình một cuộc sống mới. Người cha theo quan niệm tự do, để cho cậu thi hành theo ý muốn, không hề nhăn nhó khó chịu.

So sánh đoạn dụ ngôn nầy với hai dụ ngôn xảy ra trước đó ( Lc 15, 1-10), chúng ta thấy được có sự khác biệt: con chiên bị thất lạc do một lý do bất ngờ nào đó, đồng bạc bị đánh mất do rủi ro hay do bất cẩn.
Ở đây trái lại, câu chuyện cậu con thứ ra đi do cả hai ý muốn: ý muốn của người cha để cho đứa con được tự do chọn lựa và ý muốn của đứa con muốn tao ra cho mình một cuộc sống khác.

Nhưng phần kế tiếp của đoạn Phúc Âm cho chúng ta biết những ý định thực tâm của cậu con, đó là có được một cuộc sống trác táng, cách xa nhà cha mình:
- " Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đảng, phung phí tài sản của mình " ( Lc 15, 13).
Điều vừa kể chắc chắn phải làm cho những người nghe dụ ngôn hôm đó đều phải chú ý. Lập tức cậu con thứ thể hiện ra hình ảnh trước mặt mọi người như những người thu thế và người tội lỗi đang vây quanh bên Chúa Giêsu, mà các người Pharisêu và các kinh sư đang " xầm xì " bất đồng.

d ) Anh ta hồi tâm.

Phần hai của bài dụ ngôn được khởi đầu bằng một động từ quan trọng, " hồi tâm " hay đùng hơn " trở về với chính mình ":
- " Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ " ( Lc 15, 17).
Người con thứ bỏ nhà ra đi, bây giờ anh ta " hồi tâm ", " trở về với chính mình ".
Và cùng với động tác vừa kể, khởi đầu được diễn tả một các một loạt các động tác biến chuyển mau lẹ:
- "... ta đứng lên, đi về cùng với cha...thế rồi anh ta đứng dậy, đi về cùng cha " ( Lc 15, 18.20).

Anh đang ở trong một tình trạng bất động, không có hy vọng và không có bất cứ một biến chuyển nào, không biết hành động ra sao, chán nản sâu đậm và nặng nề.
Anh đang thiếu một cái gì đó. Thiếu thức ăn chăng, khiến cho anh phải tìm ăn " đậu muống heo ăn mà nhét cho đầy bụng "?
Thiếu thức ăn, đúng ! Nhưng đó không phải là yếu tố chính. Điều mà anh đang thiếu, đó chính là thức ăn của tâm hồn mình là người cha anh:
- " Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói " ( Lc 15, 17).

Từ lúc nhận thức được mình là con, anh " trở về với địa vị đứa con ", " trở về với chính mình ", anh cảm nhận được có được lại sự tự do của đứa con, có khả năng quyết định trở về, để lấy lại ý nghĩa kinh nghiệm của cuộc sống cha con, làm cho mình sống có ý nghĩa.
Anh khám phá ra được chính cha mình mới là người có thể làm cho mình no đủ, cho cuộc sống mình có ý nghĩa:
- " Thôi ta đứng lên đi về cùng cha và thưa với cha: Thưa cha, con đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa " ( Lc 15, 18).

Như vậy anh bắt đầu toan tính và xếp đặt chương trình cuộc hồi hương. Nhưng vừa toan tính và thiết lập chương trình, anh đã lần bước khởi hành cuộc hành trình trở về nhà.
Tuy vậy, có một cái gì đó trong lương tâm khiến cho anh không còn có khả năng coi mình là con nữa, mà chỉ là một người đầy tớ phục vụ, kẻ tội lỗi, người thuộc hạng bần cùng, nghèo khổ. Bởi lẽ thực trạng tự do của một đứa con là những gì làm cho anh ta khiếp sợ, quá lớn lao đối với anh, và nghĩ rằng mình có thể sai lỗi nữa:
- " Xin coi con như một người làm công cho cha vậy " ( Lc 15, 18b).

Có lẽ tự do phân nửa, tự do bị kiểm soát hạn chế có khá hơn không? Dụ ngôn không đề cậ đến tình trạng đó.
Thực tế là một người đang ở trong tình trạng khốn cùng mà mình đã tạo nên, hãy biết nhận lỗi phạm của mình và hoán cải lối sống, " trở về " hoàn thiện hơn. Có lẽ đó là cách hành xử tự nhiên của con người.

Nhưng trong dụ ngôn xảy ra những gì chúng ta khó có thể tưởng tượng được cho những người đang nghe Chúa Giêsu hôm đó và cho cả chúng ta. Từ xa, người cha đang đợi đứa con lưu lạc. Vừa thấy bóng dáng của anh từ xa, ông chạy lai, ôm anh và hôn lầy hôn để.
- " Anh ta còn ở đàng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh và hôn lấy hôn để " ( Lc 15, 20).
Dù cho có đầy xúc động đi nữa, cử chỉ chạy ra đón không phải lá thói quen và cử chỉ xứng đáng đối với người đông phương, bởi lẽ họ thường giữ chừng mực cách diễn tả tâm tình của mình ra bên ngoài.

Người cha ôm lấy đứa con là để cản anh ta không không quỳ xuống, lăn xuống dưới chân ông. Kế đến ông hôn lên má anh là để tỏ cho anh biết anh vẫn là đứa con trong nhà, có địa vị thành phần của gia tộc, chớ không coi anh là người nô lệ phải mọp xuống hôn chân ông. Ông cũng không để anh có thể hôn tay ông, như cử chỉ kính phục của người gia bộc, giúp việc trong nhà.
Nói một cách ngắn gọn, người cha đón rước đứa con lưu lạc của mình bằng cách trả lại cho anh tất cả mọi tự do và phẩm giá đứa con trong gia đình như lúc trước, ông sinh ra anh lại một lần nữa, mặc lại cho anh bằng tất cả phẩm giá của một đứa con:
-" Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng: " Mau đem áo đẹp nhứt ra đây, mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón táy, xỏ dép vào chân cậu, , rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta ăn mừng " ( Lc 15, 22-23).
Cử chỉ người cha đối với anh tỏ ra ông là cha lần thứ hai đối với đứa con lưu lạc, ban đời sống lại một lần nữa cho đứa con, được coi như là đã chết:
- " Vì con ta đây đã chết, mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy" ( Lc 15, 24).

Thật là cảnh tượng tuyệt diệu nhìn thấy đứa con đang ú ớ lời xin lỗi, sám hối, trong khi đó người cha hối hả sai gia nhân mặc cho cậu y phục đẹp nhất, đeo nhẫn cho, mang giày cho và mở tiệc ăn mừng.
- " Nếu đứa con hoang đàng không tin tưởng trước vào tình yêu thương của người cha, có lẽ cậu không dám trở về nhà, mặc cho tình thương đó của người cha đón nhận cậu lại sau đó, đón một cách mà cậu không thể mơ tưởng nổi " ( Hans Urs von Balthasar ).

e ) Hân hoan và lễ lạc ăn mừng.

Đi vào sâu hơn trong suy niệm bằng cách so sánh cách hành xử của người con thứ với cách của người con trưởng.
Đọc lại những dòng dụ ngôn từ đầu, chúng ta thấy được cậu con thứ gọi cha cậu bằng " cha " đến ba lần ( Lc 15, 11,18.21). Và cách xưng hô đó đã cho phép cậu nói lên sự tự do của đứa con trong gia đình, đươc cha mình luôn luôn thương yêu.

Gọi bằng " cha " là mặc nhiên xác nhận mình là con, cho thấy mình tuỳ thuộc vào cha, nhưng là mối tùy thuộc liên hệ trong tình thương yêu cha con.

Trong khi đó thì chúng ta không hề thấy danh từ vừa kể được thốt ra từ miệng người con trưởng nam, khi bàn cải với cha mình, theo cách dịch của Việt Ngữ, chúng ta có thể hiểu cách xưng hô của anh là cách xưng hô dùng tiếng " cha ", nhưng theo từ ngữ của Tây Phương, thì anh dùng các nhân xưng đại danh từ ( pronoms personnels ), cũng như tỉnh từ sở hữu chủ ( adjectifs possessifs).
Và như vậy có thể hiểu là anh không dùng danh từ " cha " để nói với cha mình, mà có thể là " ông " hay là " ngài ":
- " Voici tant d'années que je te sers, ..., et jamais tu ne m'as donné un chevreau..., et puis ton fils que voilà reviens ..., tu fais tuer pour lui le veau gras " ( La Sainte Bible, L'École biblique de Jérusalem, Cerf, Paris 1961, 1376) ( Cha ( ông, ngài ) coi, đã bao nhiêu năm con ( tôi ) hầu hạ cha ( ông, ngài), ...thế mà chưa bao giờ cha ( ông, ngài ) cho lấy được một con dê.... Còn thằng con của cha ( ông, ngài ) đó , sau khi nó đã nuốt hết gia tài của cha ( ông, ngài ) ...thì cha ( ông, ngài ) lại giết dê béo ăn mừng " ( Lc 15, 29-30).

Hiểu trong ý nghĩa đó, người con trưởng nam thay vì nhìn cha mình như là người đã ban tặng cho mình đời sống, anh chỉ coi ông là chủ nhân của anh, mướn anh làm việc như những người làm công khác, không hơn, không kém.
Và rồi với câu nói ganh tỵ ,
- " Còn giờ đây, thằng con của cha ( ông, ngài ) đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha ( ông, ngài ) với bọn điếm, nay trở về, thì cha ( ông, ngài ) lại giết dê béo ăn mừng "
( Lc 15, 30), anh ta cũng không có khả năng chấp nhận nổi đó là người em của anh, anh ta bất cần, dầu cho người em coi như đã chết bây giờ sống lại.

Suy niệm đến đây, chắc chắn ai trong chúng ta cũng nhớ lại hai câu văn trong Cựu Ước:
- " Chúa phán hỏi Cain: " Abele, em ngươi đâu rồi? ". Cain thưa: " Con đâu biết, con là người giữ em con sao? " ( Gen 4, 9),
- " Nhưng ta phải đòi mỗi con vật phải đền nợ máu các ngươi, tức là mạng sống của các ngươi; Ta sẽ đòi con người phải đền nợ máu, Ta sẽ đòi mỗi người phải đền mạng sống của người anh em mình " ( Gen 9, 5).
Chúng ta không thấy câu trả lời nào khác của người cha trong Phúc Âm, đối với đứa con cả, ngoài ra câu nói diễn tả niềm hân hoan gặp lại được đứa con bị coi như đã chết đi, nay được thấy sống lại và mình có thể ôm ấp vào lòng:
- " Chúng ta phải ăn mừng , phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất đi mà nay lại tìm thấy " ( Lc 15, 32).

Điều mới lạ chưa hề được nghe trong bất cứ nền văn hoá nào của nhân loại, ngoài Phúc Âm, đó là lời Chúa Giêsu loan báo cho chúng ta Thiên Chúa là Đấng tha thứ, chữa lành, cứu độ, ban Con của Người để cứu độ thế gian.

NGUYỄN HỌC TẬP

* Ý Kiến Độc Giả